Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Một hoạt cảnh văn chương Do Thái nhìn từ Joseph Roth

ĐỨC ANH    27/04/2026    137
Ở Việt Nam, Joseph Roth đã đến với ba tiểu thuyết gồm Hotel Savoy (Phan Nhu dịch, NXB Thanh Niên 2024), Job: Tiểu thuyết về một người thuần hậu (Cao Việt Dũng dịch, NXB Hà Nội 2025), Hành khúc Radzetsky (Cao Việt Dũng dịch, NXB Dân Trí 2025) cùng một truyện ngắn. Đây là những xuất hiện rất đáng kể trong văn học dịch ở Việt Nam - nếu không muốn nói là đáng kể nhất trong vòng mấy năm qua.


Joseph Roth (1894 - 1939) thuộc số những đại văn hào mà mọi thông tin trên Wikipedia hay từ Trí tuệ nhân tạo về ông, chúng ta đều phải nghi hoặc. Khi còn sống, Dennis Mark - nhà phê bình của một đài truyền hình Anh - đã từng theo dấu chân các sách tiểu sử của Joseph Roth về vùng Trung Âu, ông không tìm được ngôi làng nào có tên như lời kể của Roth. Việc nhà văn Áo - Do Thái ấy sinh ở Brody, ngày nay thuộc Ukraine, được Dennis Mark công nhận chỉ vì ông đối chiếu với những gì Roth viết trong tiểu thuyết. À, ngay cả việc tưởng là đương nhiên như Roth là nhà văn Áo - Do Thái cũng là điều có ít nhiều trêu ngươi: đọc tiểu sử, ta thấy Joseph Roth rất ít khi ở Áo, dù ông đã lang bạt ở mọi nơi, trừ đúng quê hương mình. Roth có quốc tịch Áo chỉ khoảng chục năm trước khi ông qua đời - thời điểm 1928, lúc đó Brody, thuộc xứ Galicia đã thuộc về Ba Lan, Joseph Roth ương ngạnh quyết xin cho được quốc tịch Áo - một nước Áo đã hoàn toàn tan rã sau 1918. Những người viết tiểu sử của Joseph Roth, nổi tiếng nhất là David Bronsen cũng như nhà văn cùng thời Soma Morgenstern, không giấu giếm nỗi nghi hoặc của mình. Cảnh đầu trong hồi ký của Morgenstern - cuốn sách mang tên Trốn chạy và Kết thúc (Huida y f in) - ông gặp Joseph Roth trong một buổi họp các đại biểu thanh niên địa phương: chàng thiếu niên nhỏ thó người Do Thái đó hóa ra trà trộn vào buổi họp chỉ vì tò mò, khó cưỡng lại cảm giác Joseph Roth đã “thuổng” luôn cái tên họ của chàng Leon Roth ngồi ngay cạnh. 

Ảnh: Nhà văn Joseph Roth


Thế nhưng, không có gì thật như Joseph Roth, không có nhà văn Áo nào là nhà văn đúng nghĩa và lý tưởng hơn Joseph Roth. Thân hình gầy nhỏ, nhưng ăn vận lịch lãm, ông gánh trong mình sức nặng của một tâm trí sôi động không cùng, một bộ óc mẫn tiệp, một tâm hồn lang thang, bồn chồn và một tính cách xao động, đầy những khôn ngoan Do Thái lưu vong. Joseph Roth liên tục bịa ra thân thế của mình, lúc thì là con nhà Bá tước, lúc thì không phải là con đẻ của gia đình, làm giả cả hồ sơ rửa tội và tất nhiên bịa luôn cả tên nơi sinh của mình, khiến chính bạn bè ông phát bực. Nhưng Joseph Roth có trái tim vô cùng nhân hậu, đức tin và lòng thương không giấu được trong lối viết hòa trộn hoàn hảo của mỉa mai, hóm tếu, xa cách và chán chường của ông. Luôn lang thang về phía Tây Âu nhưng luôn hướng về phía Đông nơi ông đã ra đời, ở đó có các ngôi làng Do Thái vùng rìa Đế Chế, với các thân phận trôi nổi sau chiến tranh. Ông viết mười lăm cuốn tiểu thuyết, vô số phóng sự và bình luận thuộc hàng kiệt tác. Ông bắt kịp nỗi sống và cũng bắt kịp cả cái chết của mình, Joseph Roth nghiện rượu nặng và qua đời khi chỉ bốn mươi lăm tuổi, ngay trước khi những người Đức lên kế hoạch tàn sát đồng bào Do Thái của ông. Joseph Roth là một trong những tái phát hiện vĩ đại nhất trong văn chương thế giới nhiều thập kỷ qua. Những độc giả phương Tây ngạc nhiên khi một nhà văn lớn như vậy lại không có di sản nào trong tiếng Anh. Ở Việt Nam, Joseph Roth đã đến với ba tiểu thuyết gồm Hotel Savoy (Phan Nhu dịch, NXB Thanh Niên 2024), Job: Tiểu thuyết về một người thuần hậu (Cao Việt Dũng dịch, NXB Hà Nội 2025), Hành khúc Radzetsky (Cao Việt Dũng dịch, NXB Dân Trí 2025) cùng một truyện ngắn. Đây là những xuất hiện rất đáng kể trong văn học dịch ở Việt Nam - nếu không muốn nói là đáng kể nhất trong vòng mấy năm qua. Cùng với Robert Musil (cũng đã xuất hiện với một tiểu thuyết mang tên Những nỗi hoảng của cậu học sinh Torless), Joseph Roth mở ra “phần chính” của văn chương Đế Chế Áo Hung. Khu vực ấy ở trong Tiếng Việt từ trước đã xuất hiện Franz Kafka, Karel Capek, Jaroslav Hasek, một số nhà văn Hungary như Marai Sandor, và rõ ràng nhất là Stefan Zweig với cuốn hồi ký của mình… Họ là những người sinh ra trong lòng Đế Chế, nhưng rất ít đại diện cho nền văn chương đó. Một cách cơ bản, văn chương Áo Hung người ta cần kể đến những bài thơ của Hugo Von Hofmannsthal, kịch của Arthur Schnitzler, những “phản châm ngôn” khắc nghiệt của Karl Kraus… và có thể là thời trước đó, với Grillparzer - người đã tạo ra huyền thoại Praha. Joseph Roth và Robert Musil, một người ở rìa Đế Chế, còn một người thuộc về trung tâm ở Vienna, là hai người tiêu biểu nhất của thế hệ chứng kiến Áo sụp đổ trong Thế Chiến thứ nhất.

Thế nhưng, không có gì thật như Joseph Roth, không có nhà văn Áo nào là nhà văn đúng nghĩa và lý tưởng hơn Joseph Roth. 


Đế Chế Áo Hung, dưới nền quân chủ Habsburg, là một vùng lãnh thổ bao la, chứa trong lòng nó gần như toàn bộ Mitteleuropa (Trung Âu) với rất nhiều các dân tộc có truyền thống lâu đời. Không phải lúc nào họ cũng hòa thuận, và không phải lúc nào cũng hài lòng, nhưng dưới các thời kì Biedemeier thế kỷ XIX, và đặc biệt hoàng đế Franz Josef I vắt qua thế kỷ XX, họ thuộc về một trật tự thế giới vô cùng hài hòa. Có người gọi Áo là một ý niệm, điều thật tương tự như ý niệm Trung Hoa. Có người thấy Áo là một huyền thoại (như Claudio Magris). Chính Joseph Roth nói rằng Áo là một tôn giáo, một siêu quốc gia. Các nhà văn yêu mến nước Áo của mình ngay cả khi họ chế giễu văn hoá Áo - Musil và Karl Kraus đều nổi tiếng với những miêu tả mai mỉa về Vienna. Số phận của Áo Hung chính là câu chuyện trung tâm trong Thế Chiến I bởi nạn nhân trực tiếp của Thế Chiến I nằm ở rìa đông Đế Chế, đó là rất nhiều quốc gia của các dân tộc Slav, Bohemia, Do Thái, Bosnia… như ngày nay ta đang thấy. Họ kẹt giữa những làn đạn của chiến tranh, những mảnh bom bứng họ ra khỏi ngôi làng và thị trấn của mình vốn vẫn yên bình tương đối trong các Vùng đất Vương miện của nhà Habsburg. Một cuộc chiến họ cũng không tài nào hiểu được, trong khi một cuộc chiến khác còn khiếp đảm hơn sẽ diễn ra chỉ hai mươi năm sau. Hotel Savoy - tác phẩm trung tâm của Joseph Roth chỉ dày đúng 161 trang trong bản in tiếng Việt, nhưng có khối lượng nhân vật đồ sộ. Dường như cả thế giới nén lại trong một khách sạn chật ních với những 864 phòng, không phòng nào thiếu người, tất cả là những người lưu vong khốn khổ sau chiến tranh đang tạm trú và nhiều người kẹt lại vì không trả được tiền phòng. Joseph Roth mở đầu cuốn tiểu thuyết bằng những đoạn văn tuyệt đẹp: “Tôi tận hưởng việc lột đi, thêm một lần nữa, một cuộc đời cũ, như đã rất thường như vậy trong những năm này. Tôi thấy lại chính tôi, tên lính, kẻ giết người, kẻ suýt bị giết chết, kẻ bật sống dậy, kẻ bị trói chặt, kẻ lang thang. Tôi lờ mờ thấy những làn hơi buổi sáng sớm, nghe tiếng trống gỗ của đoàn hành quân, tôi nghe thấy các tấm kính cửa sổ lanh canh ở tầng nhà cao nhất; tôi trông thấy một người đàn ông vận áo sơ mi trắng, nhưng cử động giật cục của đám lính, một khoảng rừng thưa lấp lánh sương; tôi lao mình xuống cỏ một “kẻ thù tưởng tượng” và nồng nhiệt mong sao mình được nằm lại đây, vĩnh viễn, trong cỏ nhung mềm ve vuốt mũi tôi…” Điểm chính trong phong cách Joseph Roth chính là những miêu tả như vậy. Chăm chú và nhiều chất thơ. Nhưng không thể nhầm lẫn với cảm xúc hay lãng mạn, Joseph Roth có một dửng dưng nhất định với các nhân vật, nhưng sự dửng dưng lại có trong đó bao dung của người sẽ không bao giờ nổi giận với nhân vật của mình. Hotel Savoy, như nhiều tiểu thuyết có chủ đề người Do Thái, đầy những nhân vật khốn khổ, nhưng sinh động. Joseph Roth thu trong tầm mắt tất cả các chuyển động tựa như của đôi mắt một người ra đường lúc rạng đông. Tất nhiên vì có lẽ Joseph Roth ra đường lúc rạng đông trong toàn bộ cuộc đời Do Thái của mình - trừ những đêm say rượu. Dậy sớm để còn trốn chạy, và mỗi ngày là một cuộc đời mới, không biết sẽ thế nào tiếp theo. Người Do Thái Đông Âu vốn thuộc về thế giới các shtetl (một kiểu xóm Đạo của Do Thái), họ sống theo Đức tin và phong hóa Do Thái cũ. Họ hoàn toàn khác với những người Do Thái Tây Âu hoặc Mỹ, đã phần nào đồng hóa mình vào phương Tây. Phần lớn họ không mấy khi ra khỏi làng: với họ thế giới Tây Âu là xứ xa lạ diệu kỳ, nước Đức kia vẫn là nước Đức của Goethe. Họ bị căm ghét và xua đuổi ở khắp nơi (vì khác tín ngưỡng). Họ không thật sự có Tổ quốc, nhất là khi trật tự Áo - Hung vốn che chở họ đã tan vỡ. Sùng đạo, người Do Thái Đông Âu của Roth có năng lực giải thích đời sống trần tục gồm cả những buồn vui, đau đớn của cá nhân qua những suy tưởng đẫm triết lý tôn giáo của họ. Phần lớn họ có biệt tài kể chuyện thiên bẩm. Họ hiểu thế giới qua truyện cổ dân tộc mình. Cộng đồng của họ có những giáo sĩ chữa bệnh bằng phép thuật, có lối sống khắc khổ nhưng giữ mình làm gương. Có những anh batlan biết hát, biết nhảy múa, mua vui trong đám cưới như một nghệ sĩ thực thụ, thường xuyên đói nghèo nhưng sống cả đời yên ổn và lương thiện. Joseph Roth viết về người Do Thái như vậy qua cuốn sách Người Do Thái lang thang (1927) - cuốn sách ông gửi vào đó tất cả những vấn đề cần cảnh báo cho Châu Âu về thực trạng của một dân tộc. Và những mẫu nhân vật đó đi thẳng vào văn chương Joseph Roth dẫu cho không phải cuốn sách nào họ cũng khai mình là người Do Thái. Và họ có mặt trong Hotel Savoy, không có gì khác ngoài việc lo miếng ăn hằng ngày, sợ cảnh sát, và cũng không đủ sức để tuyệt vọng: nhân vật chính, Gabriel Dan, còn không hiểu nổi tại sao anh ta không muốn nhận món tiền từ anh họ để đổi lấy căn phòng của mình. Sau Thế Chiến, các shtetl Do Thái bị hủy hoại. Người Do Thái thường xuyên không có giấy tờ, tên của họ rất khó nhớ, và khi lang bạt ở Đức, Ý hay Pháp, họ trở thành công dân những khu ổ chuột, với giấy tờ giả. Điều này phần nào giải thích cho thói quen làm giả danh tính của Joseph Roth đã nêu ở đầu bài. Ta có thể nói, Joseph Roth chứng kiến thế giới của ông sụp đổ những hai lần, Áo - Hung và Do Thái, ngay cả khi Đức Quốc Xã chưa thực sự hình thành. Câu chuyện Hotel Savoy chỉ vòng đi vòng lại giữa những nhân vật tuyệt vọng, và ta thấy trong đấy sự tương đồng lớn lao với các tâm hồn vănchương khác. Hotel Savoy là người anh em với Lâu đài của Kafka: không ai thật sự biết người chủ - kẻ sẽ thu tiền của họ - là ai, cảnh sát và quân đội luôn rình rập bên ngoài. Cả Roth và Kafka - hai người Áo Hung Do Thái gần thời với nhau và có lẽ cũng biết nhau - đều nhìn thấy thế giới đã trở nên lạ lùng tàn bạo và được điều khiển bằng những thiết chế ẩn danh. Những người Do Thái mà “sẽ chết trên giường và truyền thừa nỗi bần cùng cho đời sau” của Hotel Savoy gửi hy vọng cho một người Do Thái phương Tây là Bloomfield - nhà triệu phú. Nhưng thực ra Bloomfield không quan tâm mấy đến các đồng bào của mình. Một trong số những nhân vật thì luôn luôn nhìn về nước Mỹ, anh ta còn nói về nước Mỹ đến cuối câu chuyện. Cần ghi chú thêm, vào thời kỳ của Joseph Roth, nước Mỹ đã bắt đầu giống như nước Mỹ ngày nay - Joseph Roth tương đối cùng thế hệ với đồng nghiệp ở Mỹ là F. Scott Fitzgerald (tác giả Gatsby Vĩ Đại). Cả hai nhà văn của chúng ta có số phận tương đối giống nhau, đều qua đời vì rượu năm bốn mươi lăm tuổi với người vợ mắc bệnh nặng, chỉ có điều Fitzgerald tàn hủy đời mình vì ông quá tin vào thành công, còn Joseph Roth thì quá tin vào thất bại. Những người Áo Hung dường như thấy trong nước Mỹ đầy vận hội đó hình ảnh của Áo Hung cũ, tức một nhà nước liên bang. Và người Do Thái thấy Mỹ là nơi cứu rỗi hứa hẹn, họ tìm mọi cách để sang Mỹ. Mỹ đúng là cơ hội đổi đời của người Do Thái, điều thấy trong tiểu thuyết Job: Tiểu thuyết về một người thuần hậu. Đây là tác phẩm thuộc một dòng khác của Joseph Roth, dù cùng chủ đề Do Thái, cùng với Kẻ nổi loạn (Die Rebellion), hay Thủy quái Leviathan. Bởi vì đó là các tác phẩm bước ra từ chính tinh thần văn học Do Thái: những câu chuyện có tính dụ ngôn đậm nét. Những câu chuyện đó có gốc gác gần gũi với các nhà văn viết tiếng Yidish đã làm nên nền móng văn học Do Thái Đông Âu cuối thế kỷ 19 gồm Sholem Aleichem và Mendele Mojer Sforim. Ta dễ dàng nhận ra khuôn mẫu Do Thái Đông Âu trong các tiểu thuyết của họ, chẳng hạn như Cuộc phiêu lưu của Benjamin III (1878), ở đó Mendele Mojer Sforim tự gọi là Don Quixote của Do Thái, lấy hai nhân vật Benjamin III và Seferl. Lương thiện, ngây thơ, tràn đầy đức tin Do Thái, và đọc phải một quyển sách nào đó, hai nhân vật nghèo khó đi ra khỏi shtetl của mình (mất nhiều công lừa người vợ), lang thang để tìm đất hứa, ở đâu họ cũng bị coi khinh, và khi về đến quê hương, thì quê hương không còn nữa. Không hoàn toàn giống, nhưng có tính cách tương tự, Job (và cả Kẻ Nổi loạn) của Joseph Roth lấy mẫu câu chuyện ở sách Gióp trong Cựu Ước, về người đàn ông khốn khổ muốn hỏi Thiên Công rằng tại sao người công chính lại bất hạnh. Nhân vật chính Mendel Singer người Do Thái rất điểnhình trong Job sinh ra nhiều đứa con, một trong số đó đã trốn sang Mỹ, một trong số đó thì tàn tật - tên là Menuchim. Thế rồi, khi đứa con Mỹ của ông (đã đổi thành một cái tên Mỹ là Sam) đón gia đình sang, ông bắt buộc phải để Menuchim ở lại. Chúng ta sẽ không thể nào quên phân cảnh khi ông đã ở Mỹ, thế giới tươi sáng đã mở ra, nhưng rồi ông muốn bật khóc, có lẽ Joseph Roth lúc ấy và độc giả Việt Nam giàu lòng trắc ẩn một trăm năm sau cũng có thể đã bật khóc cùng người cha khốn khổ ấy: cuộc đời cũ đã đi đâu, và Menuchim đứa con tội nghiệp bé bỏng của ta đâu rồi. Câu chuyện trong Job kết thúc một cách có hậu, với đúng tính cách của truyện cổ Do Thái. Sự cứu rỗi cuối cùng lại không nằm ở nước Mỹ, mà chính từ Menuchim - lúc này đã nổi tiếng khắp thế giới với vai trò nhạc công, cứu rỗi người cha của mình. Về phần mình ngoài đời, Joseph Roth đã không đi Mỹ khi có đầy rẫy cơ hội, ông luôn tìm thấy tâm hồn mình ở rìa phía đông Đế Chế, và dường như ông quyết ở lại giữa hai cuộc Thế chiến, mơ hồ kỳ vọng là thế giới cũ sẽ quay trở lại. Chúng ta cũng không nên nghĩ rằng Joseph Roth thực sự bất hạnh, vì theo các nhà viết tiểu sử, ông vẫn kiếm tiền từ nghề báo, thậm chí là nhà báo có nhuận bút cao nhất ở Đức. Joseph Roth cũng không hẳn lang thang vì bị xua đuổi như đồng bào ông. Thậm chí, cuối cùng, Joseph Roth cũng không sinh ra trong các xóm Đạo người Do Thái, cũng không có luôn quốc tịch Áo từ ban đầu. Nhưng ông là vinh quang lớn nhất của văn chương Do Thái, và văn chương Áo Hung, vinh quang bật lên từ sụp đổ và luôn giấu mình trong bóng tối. Có một điều các nhà phê bình thường nửa đùa nửa thật: tinh hoa văn chương tiếng Đức lại nằm ở Áo. Có một từ trong tiếng Đức: Seelanlandschaf (địa lý tâm hồn). Từ này có lịch sử sớm hơn so với từ “toàn cầu” hay “bản địa”. Chúng ta thường nghĩ có những nhà văn toàn cầu và những nhà văn bản địa. Nhưng có những nhà văn như Joseph Roth, ta không thể hiểu được tâm hồn văn chương đó chỉ qua văn bản giống như cách đọc mà Vladimir Nabokov đề xướng. Độc giả thấy ông, cũng là lúc thấy quê hương tinh thần của ông, tâm hồn của nhà văn làm nên một vùng đất, một lịch sử, gắn kết với nó như những kỷ niệm trót lỡ của đời sống nhân loại. Và từ cánh cửa đó, một thế giới mở ra, cái thế giới thực sự bên dưới những lớp thông tin tuôn trào không thể tiêu hóa nổi của thời đại thông tin, chỉ có được qua văn chương.  

                                                                                                                                                                   Đ.A