Tiếng vỡ đánh “xoảng” từ buồng nội khiến tôi giật mình. Đây không phải lần đầu, mỗi cú ném cứ như chiếc dầm thúc ngang hông, đau thảng thốt. Tôi thẫn thờ nhìn di ảnh cha, bức ảnh hiếm hoi còn lại trong điện thoại được phóng to lồng khung, thép vàng. Ánh mắt nheo hiền từ, sống mũi vừa phải, khuôn miệng hơi móm, vầng trán không cao, mái tóc thưa bạc sớm, loà xoà, dù được chỉnh tẩy vẫn không xoá hết nỗi khắc khổ trên khuôn mặt người.
Đưa lên đặt xuống bao dự định,
tính toán cân đo mọi nhẽ vẫn không thấy lựa chọn nào đúng đắn. Ngồi trước ban
lãnh đạo, tôi phải dứt khoát việc tiếp tục hay dừng lại, cái công việc tôi đã
phải nỗ lực bao mồ hôi công sức
mới có được này.
Tôi đã thử thuê người chăm nội,
và hầu như bất lực. Chẳng ai như nội, nằm một chỗ nhưng hai tay khá khoẻ, và trộm
vía, nội ăn được, nói nhiều. Cũng chính cái sự nói của nội khiến nhiều người bỏ
cuộc. Nội ăn ngủ thất thường, đang khuya say giấc gọi ngược dậy nói chuyện,
không đúng ý là chửi, vứt đồ tứ tung. Có lần, chị người làm thút thít vén áo
cho xem những vết tím, nói phải chi nội liệt hẳn dễ hơn… Tôi điếng khựng, từng
mạch máu trong người đông lại.
Tôi chưa quen việc cha đi đâu đó
lâu quá, bỏ lại tôi và nội trên cõi đời càng không. Thực ra tôi đủ trưởng thành
để chịu đựng thêm những nỗi đau, nhưng đau không đồng nghĩa với mất mát. Tôi sắp xếp từng mảng ký ức, từng
câu nói, những kỷ niệm cùng cha. Chẳng thấy dấu hiệu nào là điềm báo cha sẽ rời
đi, mãi mãi. Nội vừa la vừa ném mọi thứ vừa tầm tay; ly nước, bình thuỷ, hộp sữa,
chai thuốc, lọ dầu, kể cả khăn lau mặt. Nhiều lần, tôi thay mọi thứ bằng đồ
không vỡ, cất tiệt những thứ bằng thuỷ tinh. Tôi vừa thương vừa giận, nhưng
luôn dặn lòng phải bao dung, nhất là với người đã mang nặng đẻ đau ra cha.
Khi ứng tuyển vị trí hiện tại,
tôi đã vẽ nên những khung cảnh đẹp đẽ. Nội vẫn miệt mài bên bàn trân xe sợi, dệt
chiếu, loại chiếu trắng người ta dùng trong các đám hiếu, không cầu kỳ, không cần
bền đẹp, thu nhập đủ ăn trầu. Cha giong thuyền ra bãi, câu cá, bắt tôm, cuộc sống
giản dị yên bình. Tôi vẫn dệt giấc mơ có mẹ, nó chỉ toàn nước mắt. Tôi cất nước
mắt để làm những điều hệ trọng, như bằng mọi cách phải có được công việc mình
yêu thích với đồng lương xứng tầm này.
Thuở nhỏ tôi thích vùi mặt trong
mớ lác khô nghe mùi nắng thơm giòn, nghe tóc cọ vào thân lác, nghe nội mắng tổ
cha bây, phá vừa chứ! Tôi cười khúc khích ù té chạy va vào chân cha, đầu gối
ông làm tôi đau điếng. Cha mỗi sáng ra hồ cắm lại cọc, lúc giăng lưới ngăn rác,
ngắm nghía chuôm sắp đến hồi thu hoạch, thầm đoán được nhiêu, tiêu vào khoảng
nào, tiện tặn kiểu chi cũng đủ. Lúc này hoa súng rộ trắng cả mặt sông, cánh mỏng
rung rinh soi bóng nước. Thuyền cha nhẹ lướt, chầm chậm, thể như sợ giật mình
chú chuồn chuồn trong cơn ngái ngủ, sợ gã nhái xanh mạnh chân làm đau lá sen
non, sợ giọt nước long lanh trên nõn lá rơi tõm xuống lòng hồ, sợ lũ cá tôm lặn
sâu tìm nơi trú ẩn. Nắng khiêu vũ trên từng đoá hoa, trên từng chiếc lá, nắng
nhẹ lướt trên mặt sông, vờn nhau với lũ chuồn chuồn, đuổi theo từng cánh cò. Bầy
cò cõng nắng lượn quanh mặt hồ mênh mông, nghiêng đôi cánh đổ ánh vàng xuống những
đoá hoa vừa hé, nhuỵ sen bừng sáng, hương loang khắp mặt đầm.
Khi ráng chiều nhuộm vàng cả góc
trời, mặt đầm lặng yên không tiếng cá quẫy, lũ gọng vó nhoáng cái mất hút giữa
bao la nước và cây cỏ. Thuyền cha nhẹ nhàng lách đám lục bình tới bãi sậy, từng
chuỗi hoa dạt ra như hờn trách, ánh tím man mát lòng. Bầy cò diệc nhẩn nha tỉa
cánh, bình thản ngắm chiếc thuyền nhỏ có ông người buông cần câu. Lũ cò ốc to
xác nhưng khá nhạy, chỉ cần thấy bóng người là vội vàng bay đi, đôi cánh với
hai màu trắng đen sải dài giữa nền trời rộng.
Đã có lúc cha nằm dài trên thuyền,
ngửa mặt nhìn trời, tự trách mình nhu nhược. Làm một người đàn ông giữa đời lại
phải cân đong giữa mẹ và vợ. Được mẹ mất vợ, được vợ thì bất hiếu, sao ông trời
nỡ trêu trò nhẫn tâm? Mi ưng thì theo hắn luôn đi, tau không có loại con bất hiếu,
biết rứa hồi nớ tau đẻ cái trứng luộc ăn cho sướng miệng. Giọng nội đay nghiến,
tia nhìn như nồi than đỏ rực hắt vào khoảng tối, thể như phía ấy mẹ vừa khuất
vào. Lúc đó tôi mới hơn năm tuổi.
Hơn năm tuổi thôi mà tôi nhớ rõ mồn một mọi thứ, từ cái nắm tóc giúi
đầu mẹ vào ảng nước của nội. Nội ngã nhào sau cú vùng thoát, hai người giằng co
thêm bận nữa. Tôi sợ khóc thét, bắt gặp ánh mắt trợn tròn của hai người, liền
nhét gấu áo vào miệng nín thin thít.
Nội và mẹ mỗi người một buồng, nồi
cơm với thức ăn thơm phức nằm lì trên bếp chẳng ai đả động. Bụng sôi ào ào, nước
miếng trong thành dòng, hai tay run lên, đôi chân yếu ớt, tôi ngồi bệt vào góc
tối. Đêm nhũn ra, muỗi vo ve đông đặc. Những con muỗi mình vằn, chân dài và chiếc
kim to sẵn sàng cắm phập bất cứ chỗ nào, kể cả lớp vải cứng. Tôi đưa tay đuổi yếu
ớt, một lúc thì thiếp đi. Trong cơn mơ màng còn nghe giọng nội cay nghiệt. Tôi
không hiểu “sát phu” là chi mà ngày nào nội cũng lặp đi lặp lại.
Mẹ sinh năm Dần, lớn hơn cha một
tuổi, người vừa phải, hai gò má cao có vài nốt tàn nhang, mắt sắc, cằm thon
duyên dáng. Nhờ làn da trắng và khuôn mặt đẹp, trông mẹ trẻ hơn cha nhiều. Trước
khi đến với cha, mẹ đã nhận trầu một đám, nhưng người ấy, vì một bất trắc nào
đó đã dừng lại ở cuộc đời tươi đẹp khi mới ngoài đôi mươi.
Cha hiền lành, người gầy nhẳng, mắt
sâu, da sạm nắng, chân tay khẳng khiu, thêm phần nhút nhát. Cả đời chẳng dám mở
miệng ghẹo cô nào, nhờ một người trong làng mai mối nên mãi gần ba mươi mới cưới
được vợ. Mà thật ra họ dắt hẳn Nhạn - mẹ tôi tới, dúi vào tay, bảo hai đứa ưng
nhau. Bối rối, lúng túng, sau rốt cha cũng bị nhan sắc của mẹ chinh phục. Đàn
ông, mấy ai thoát được lưới tình.
Tụi tui có con với nhau rồi! Cha
thông báo chập chờn, cố tỏ uy lực người đàn ông trưởng thành tự quyết định hôn
nhân. Nội trợn dộc hai mắt, đổ phịch khỏi chiếc chõng tre. Xứ tôi thời đó người
ta tối kỵ “ăn cơm trước kẻng”, mẹ chồng đưa cô dâu qua ngạch chuồng trâu, xuống
bếp, không thắp hương ra mắt gia tiên, cố dằn những bước chân lên bóng cô dâu…
Những thứ đó mẹ tôi trải cả.
Tuy đã lập gia đình, cha vẫn là
chú cò con trong mắt nội, chẳng thế mà nội cứ gọi cha bằng Cò, như gọi một đứa
trẻ. Nhưng nội không thích cô con dâu ni, đã tuổi Dần thì chớ, lại qua bàn trầu,
mà nghe nói chồng trước chết bất đắc kì tử. Nội soi từ dáng đi, hàng chân mày đậm,
đuôi mắt sắc, lắc đầu thở dài.
Nhìn hai cái chân dài nhẳng như cẳng
cò, ai cũng phán tôi giống cha, trừ nội. Dù muốn dù không, nội cũng phải trông
tôi cho mẹ mỗi sáng chạy chợ. Ngôi chợ quê nghèo nàn, mái tranh tạm bợ, hàng
quán được quay bằng vài tấm cót, miếng bạt, bao urê, những mớ rau hái từ vườn,
trái bí, trái bầu, mì khô, măng luộc. Giữa mớ cá tôm, mẹ rực sáng như một bông
sen cuối vụ khiến nhiều người trầm trồ.
Ba tuổi, tôi lẽo đẽo theo nội đi
khắp làng, từ kéo trân, xe sợi, đến dệt những bức chiếu hoa. Thích nhất là những
dịp cúng đình, phẩm vật nhiều vô kể. Đình cổ Thạch Tân
của tôi từng bị địch dùng xe tăng húc nhưng không đổ, chúng buộc dây xích sắt
vào 4 chiếc xe tăng, rú ga tỏa ra 4 hướng, dây xích bật đứt. Kỳ lạ thay, đình vẫn
uy nghi, cột vẫn vững như bàn thạch trước sức mạnh cơ giới của kẻ thù. Dưới nền
ngôi đình còn được đào những căn hầm bí mật, nơi chứa lương thực và cứu thương
thời chiến.
Thi
thoảng từng đoàn người về tham quan, họ chỉ trỏ, tay miết lên tấm bản đồ chằng
chịt, thăm từng ngách hầm, ngó từng bụi tre. Tre làng tôi không chỉ để làm nhà,
cho bóng mát, cho măng nấu canh, tre còn là thành luỹ vững vàng chở che những
căn hầm tránh bao làn đạn khốc liệt. Vĩnh Bình quê tôi còn có những địa đạo sâu
trong lòng đất dưới lớp cát dày. Từng căn hầm thông nhau qua giếng nước, luồn
lách dưới những căn nhà, chuồng heo, cây rơm, ngách thông hẳn ra Bãi Sậy.
Đầm
Bãi Sậy nước thường chỉ ngang tầm bụng, chỗ sâu cũng nhỉnh đầu người, cỏ lác,
lau sậy rậm rì, cá tôm nhung nhúc nuôi sống bao người, từ thời chiến đến thời
bình, dân quanh hồ đủ cái ăn cái mặc. Thế mà mẹ phải bỏ tôi, bỏ cha, bỏ
xứ ra đi. Tôi vẫn nhớ những lần mẹ đi chợ về thi thoảng có người theo, nói xuống
đặt mua tôm cá. Mẹ loay hoay trong bếp, cha niềm nở tiếp khách, chỉ nội lặng
thinh. Bữa cơm, nội nhắc khéo, đắt rẻ bán hết trên chợ, ở nhà chẳng còn chi đừng
dẫn khách về. Mẹ nhẩn nha nhai cơm, mắt nhìn ngang ngõ. Cha gắp thịt vào chén
tôi, hối ăn nhanh mau lớn. Tôi cặm cụi và, hạt cơm có chân trèo qua miệng chén.
Con Mun nhìn tôi, không biết chực miếng cơm thừa hay chờ một người bạn chơi
cùng, mắt nó ướt long lanh.
Xứ tôi, không biết vì lẽ chi, từ
đời này qua đời khác chỉ hạ chuôm vào sáng sớm, cá tôm thu được cứ rứa mang thẳng
ra chợ, họ không thu hoạch ban đêm vì bất cứ lý do nào. Thế mà cha, sau một hồi
lưỡng lự, nhìn ra đầm, lại nhìn xấp tiền dày, ông gật đầu.
Người giàu sướng thiệt, cha nói với
hai người bạn phụ dỡ cọc, tháo lưới, xua đám lục bình ra chỗ khác. Trăng lồng lộng
trên đầu, mặt nước dềnh doang ánh bạc, tiếng cá quẫy ồm ộp dưới chân, tiếng hú
hét sung sướng của những vị khách ngồi trên thuyền ngắm từng chú cá được tóm
lên cho vào xô nhựa. Những con tôm xanh với đôi càng to khoẻ, mắt sáng rực như
gắn điện, những con cá leo vùng vẫy cố thoát, thân hình đen bóng trơn nhẫy. Hơn
một giờ đồng hồ lùng sục, thu vét, nhóm người bơi thuyền qua hồ sen, nổi lửa nướng
cá, nướng tôm. Chiếc chòi tạm rung lên từng hồi, tiếng cười vang giữa sông nước.
Sen đang vụ toả hương ngào ngạt, gió tạt ngang đưa mùi cá nướng rơm thơm lừng,
giọng ca bài chòi ai đó cất lên, giản dị, mộc mạc. Ánh trăng treo giữa trời
khuya lồng lộng, đám mây như bầy sứa xanh trong suốt chực chờ ăn trăng. Vượt mọi
biên độ, nước trời hoà nhau loang thơm, trăng run rẩy bên hoa, sen nhoẻn cười
cùng lũ cá nấp dưới tán lá.
Người giàu sướng thiệt, cha nhắc
lại lần nữa. Cầm xấp tiền người khách hào phóng thưởng thêm, cha tần ngần mất hồi
lâu, trong đầu thấp thoáng chiếc áo lụa sa tanh hồng, đôi dép da bò, chiếc nhẫn
hột ngọc xanh màu trời mẹ ao ước. Thi thoảng nhận bắt cá đêm như ri cũng sướng,
cha nhủ.
Đêm cha nằm luôn ngoài thuyền chờ
đưa khách vào bờ, nghe đâu họ chơi tận gần sáng.
Bỗng cha đổ bệnh, khá nặng. Người
trong làng xào xáo, chắc bà thuỷ quở. Nội sắm lễ vật tạ tội. Mẹ không tin, thời
mô rồi còn mê tín, đời ai chẳng ốm đau. Nội sừng sộ, mắt trợn lên, lòng đen trốn
tiệt một góc, mi thì biết chi, con trai tau mà có bề chi thì do mi hết, cái thứ
đàn bà sát phu. Mẹ cũng không vừa, lời qua tiếng lại inh ỏi xóm làng. Việc mẹ
đưa khách về nhà, cha thu chuôm ban tối, vô tình đổ trận đau mà nội với mẹ hục
hoặc nhau suốt. Chiếc lá vướng chân nội cũng chê đàn bà lười, tô canh hơi lạt nội
bĩu môi không ăn, nồi cá không cay nội lùa cho chó, kiểu chi cũng có chuyện với
nội.
Cha ra đầm, tôi chơi nhà hàng
xóm, đói bụng nên lót tót chạy về, vừa tới ngõ đã nghe tiếng giằng co. Chứ bà
muốn răng? Giọng mẹ gào lên. Tôi thất kinh nép vào một góc, nội dùng hết sức
bình sinh nắm lấy tóc mẹ, vừa nắm vừa giật. Buông tôi ra, trời ơi, ông trời ơi!
Hai tay cố giữ chân tóc, người rướn theo mỗi bước giật lùi của nội, tóc mẹ xoã
tung, áo quần xộc xệch. Tôi gào khóc lao vào cứu mẹ, nội giằng thêm mấy cái nữa
mới dừng tay bỏ đi. Mẹ ôm tôi vào lòng, nước mắt giàn dụa.
Mấy đêm liền nhìn trần nhà thở
dài, lũ thằn lằn chí chách chạy quanh cây cột càng khiến mẹ thêm phiền muộn. Tôi
nghiêng người ôm mẹ, mặt úp vào bên lườn mềm mại. Đêm, cha về, rón rén. Mẹ đỡ đầu
tôi ra chiếc gối mềm, nói khẽ, con ngủ rồi, tôi với anh nói chuyện xí. Người
đang ngủ thì có được thở không, tôi không biết, chỉ biết cố thở thật nhẹ cho để
không ai biết mình đang thức.
Anh tính tới đâu rồi, vụ vô Nam
làm ăn nớ, mẹ nén giọng mảnh như sợi tơ. Cha lắc đầu, bỏ mẹ một mình răng được?
Vậy anh quyết bỏ mẹ con tôi? Mẹ cáu. Khùng quá, đang yên đang lành, ngủ đi! Cha
nằm xuống, chiếc giường khẽ run lên. Đang yên đang lành? Như ri là đang yên
đang lành hả? Mẹ vừa nói vừa vén áo. Tôi he hé nhìn, những vết tím bầm xanh
vàng lẫn lộn. Mỗi lúc không vừa ý, nội lại dúi cho mẹ một cái đau thấu trời
xanh. Mấy lần mẹ suýt đánh lại, bắt gặp ánh mắt sợ hãi thảng thốt của tôi lại
thôi.
Cả đời cha chưa ra khỏi lòng hồ,
quẩn quanh với cá tôm cò diệc, cuộc mưu sinh gắn tấm lưới, cần câu. Giờ rời đầm,
cha thấy mình chẳng khác đứa trẻ thiếu tháng bị cắt dây rốn.
Mẹ dạo này xa lạ, không nói,
không cười, lặng lẽ như lá sen ngoài mặt đầm. Nhưng sen sẽ vươn lên đón nắng, sẽ
nghiêng mình tránh những vạt mưa, chẳng gì làm khó được sen, còn mẹ...
Cha tấp thuyền vào bãi, bóng đèn
trên trán pha thẳng vào nhà, tay cha lỉnh kỉnh đồ. Mẹ mi đâu?
Thay vì gọi vợ bằng tên hay em,
hoặc bà nó như đàn ông xứ tôi, cha gọi người phụ nữ của mình là “mẹ mi”, vừa
thân thương, vừa như có sợi dây vô hình buộc ràng. Cha dừng lại ngó quanh, ngôi
nhà nhỏ im phăng phắt chỉ còn tiếng muỗi vo ve. Mây ơi, Mây! Nghe tiếng gọi,
tôi choàng tỉnh loạng choạng lao về phía cha, nấc nghẹn. Nội đâu, mẹ đâu? Cha vừa
hỏi vừa đặt mấy thứ lên bàn rồi cúi bồng tôi. Tôi ngả đầu lên vai cha, mặt vùi
vào cuống cổ dài hăng hăng mùi bùn thổn thức. Mẹ với nội đánh nhau. Hả, đánh
nhau? Cha xoay nhìn quanh nhà như tìm dấu tích một vụ xô xát. Là nội đánh mẹ, không, nội giúi tóc mẹ,
mẹ vùng ra, nội té, hu hu…
Tường thuật một cách khó nhọc, những
hình ảnh hãi hùng tua lại trong đầu khiến tôi thêm lần hoảng sợ. Sau này nhớ lại,
tôi tự nhủ sẽ không để con mình phải chứng kiến những điều tương tự, nó quá sức
chịu đựng của một đứa trẻ. Trẻ con, chúng cần đồ ăn, quần áo đẹp, tình yêu
thương và những cái ôm.
Cha tìm mẹ nhiều ngày dài, phờ phạc,
việc bỏ dở, cả nhà ăn mì tôm thay cơm. Cả tháng trời rong ruổi, cha như người
vô hồn, tiều tuỵ, tóc tai bờm xờm, áo quần nhếch nhác. Cha không lường hết được
sự việc, chỉ nghĩ mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu vụn vặt, nhà ai chẳng rứa.
Tôi càng lớn càng giống mẹ, nội
không ưng. Tôi thắc mắc, cha xua, nội có mình Mây là cháu, không thương Mây thì
thương ai. Gần hai chục năm tôi sống trong thiếu hụt tình thương. Mẹ về thăm mấy
lần toàn bị nội đuổi đánh, chửi rủa thậm tệ. Dúi vội vào tay tôi lúc gói bánh,
cái kẹo, hay chiếc kẹp tóc, ôm tôi với những cái hôn ướt nhoẹt. Nhiều lần mẹ tới
trường để nhìn tôi mặc áo dài, nhìn tôi thành thiếu nữ. Nhét vội ít tiền vào
túi cho tôi, mẹ rời đi vội vã như kẻ trộm sợ bị bắt quả tang. Tôi chưa hiểu
chuyện đời, nghe thiên hạ chê trách người đàn bà nỡ lòng bỏ con thì chạnh buồn.
Cứ thế, chúng tôi dần xa cách.
Cha mất đột ngột như cú giáng vào
đầu khiến tôi và nội ngã quỵ. Nhờ bà con hàng xóm cưu mang, chúng tôi lê lết
qua những ngày buồn tăm tối. Nhưng nội tuổi đã già, lại thêm bệnh, luỵ hẳn. Tôi
trầy trật gánh gồng.
***
Rời công ty trong trạng thái trống
rỗng, mọi thứ như lâu đài cát bị sóng đánh. Tôi đứng đó, bất lực nhìn công
trình nguy nga mình dày công xây đang bị con sóng lớn từ khơi xa tiến dần lại.
Hoảng sợ. Cuống quýt. Không thể dời lâu đài của mình đi đâu, cũng không thể
ngăn sóng đừng tiến vào, tôi sụp xuống, bất lực.
Chẳng thể phủ nhận tôi đã từng oán trách ông trời, phải
chi tôi còn cha, phải chi tôi có mẹ bên cạnh. Mà phải chi nội tôi, cha mẹ tôi
có vài người con thì giờ đâu đến nỗi. Sự khan hiếm rơi dần, nhỏ giọt khiến bây
giờ một đứa là tôi trơ trụi cõi đời.
Ghé mua một ít thức ăn, tôi tranh
thủ về với nội. Tôi không biết mình còn cầm cự được bao lâu, ai đến cũng chỉ được
đôi ngày, dài nhất một tuần rồi xin nghỉ, dù tôi cố trả lương hậu hĩnh.
Đôi chân nội mỗi ngày teo dần lại,
sau liệt hoàn toàn. Xưa nội hay than đau chân, di chứng của những ngày mới sinh
phải ôm con nấp dưới nóc hầm xâm xấp nước. Tôi xoa xoa lên hai mắt cá sưng vù, hứa chăm lo nội suốt đời.
Mẹ về. Đột ngột như khi ra đi.
Tôi mất hồi lâu mới tin mọi thứ là sự thật. Chiếc túi vải để sát mép giường, mũ
tràng xếp gọn bên cạnh. Lặng lẽ thay tã, dọn mấy cái đồ nội vứt lung tung, ngước lên bắt gặp đôi mắt chết
sững của tôi, mẹ bước nhanh ra khỏi buồng. Chúng tôi ngồi với nhau lặng im, thời
gian quên trôi.
Tôi muốn ôm mẹ quá, lại thôi,
trái tim không còn chỗ cho những yếu đuối. Hai tay mẹ nắm vào nhau, mắt dõi ra
mặt đầm nơi đám lục bình ngát xanh và hoa tím rung rinh dưới nắng, thi thoảng một
quầng sóng loang gợn, sắc cầu vồng ẩn trong mây rọi vào bóng nước. Mãi một hồi
lâu, mẹ nói như sợ tôi nghe, để nội mẹ lo, con cứ đi làm kẻo mất việc. Tôi sững
lại, nhìn mẹ, niềm vui mừng có thể hét lên thành tiếng, đôi mắt muốn nói có thật
không mẹ, có được không mẹ? Siết đôi tay gầy rồi ôm chầm lấy mẹ, con cảm ơn mẹ,
tôi nói trong tủi nghẹn. Tôi biết thật không dễ cho ngày trở lại khi mà giữa
hai người vẫn đầy mâu thuẫn. Chừ vì con, mẹ làm được hết, nước mắt nhoè ướt vai
tôi, hai vai mẹ rung lên.
Khóc chán, chúng tôi lau mắt cho
nhau, như lau những tủi hờn bao năm chất chứa. Tôi từng hỏi sao mẹ không đưa
con theo cùng, mẹ ôm lấy khuôn mặt tôi, ở với cha, con có một mái nhà, đi với mẹ
con là trẻ lang thang. Con người, phải có một nơi để ở, phải có chốn để về. Lúc
đó tôi khóc nhiều lắm, nghĩ mẹ không thương mình. Nhưng bên ngoại không còn ai,
đất đai đã về tay người khác hết, mẹ sống nhà trọ, nay đây mai đó, như chú chim
không tổ, như con cá không tìm được dòng trôi, mẹ lay lất gió sương. Sao mẹ
không lấy ai đó, gửi gắm cái thân, tôi hỏi. Mẹ cười, mẹ cũng gặp vài người,
nhưng… Sự ra đi của người trước, những lời
cay nghiệt của nội trở thành nỗi ám ảnh day dứt.
Nội như ngọn núi lửa bừng tỉnh
sau giấc ngủ dài, bà trợn mắt nhìn sâu vào người phụ nữ đang thay áo cho mình,
chợt vùng vẫy, miệng bớ làng bớ xóm hắn cướp tiền tôi, hắn giết tôi. Quanh xóm
quen tính nội chẳng ai buồn tới, tôi lặng yên sửa soạn giường chiếu chỗ nằm cho
mẹ, vừa để xem mẹ xử lý thế nào.
Thái độ tịnh không của mẹ càng
khiến nội điên tiết, bà đưa tay kéo tóc, giật áo. Bị đau, mẹ giằng tay nội ra,
bà quá đời quá thuở vừa thôi! Xong vuốt lại tóc, mái tóc tuy không còn mượt mà
như xưa nhưng vẫn đen dày. Không còn cách nào khác, tôi cứ để hai người tự xử sự
với nhau, trong lòng một nỗi bất an xâm chiếm. Mẹ bước ra khỏi buồng, tay sửa lại
chiếc áo xộc xệch, người chi mà mấy chục năm không bỏ cái nết hung hãn. Tôi bật
cười méo mó, thấu không mẹ? Kệ bả đi, sống được mấy hơi nữa mà! Hồi xưa chứ chừ
nằm một chỗ làm chi được mà lo, mẹ nói.
Tôi đi làm, thi thoảng liếc
camera xem hai người thế nào. Chiếc camera tôi lắp từ ngày kêu người giúp việc
đầu tiên, và ai cũng bị nội cào cấu
thảm thương. Một người không chịu được sự quá quắt nên đánh lại, xong gọi luôn
cho tôi bảo chịu hết nổi với bà già chướng khí, chị nghỉ!
Tôi không nghe rõ cuộc đấu khẩu giữa nội với mẹ,
nhưng có vẻ căng. Gắn vội tai nghe chạy vào toilet, giọng mẹ mồn một: Sao bà không liệt luôn cái tay, cái miệng giùm tui, quá trời quá đất ai mà ở với
bà cho nổi. Nội cũng không vừa, cút, cút khỏi nhà tau! Tay nội huơ tìm, chiếc
ca nước bay thẳng vào mặt, mẹ nghiêng người trớ được. Không cút đi đâu hết, tôi
ở đây cho bà tức chết, mẹ đáp dấm dẳng. Nội hừ hừ, hai tay vung tứ phía nhưng
chẳng có chi vừa tầm. Nhân lúc mẹ sơ ý, nội chộp được đuôi tóc. Một tiếng ối
vang lên khiến tôi thót tim, ngực trái buốt nhói.
Tan ca, tôi chạy như ma đuổi về
nhà. Mẹ hong tóc bên chiếc chõng tre, mùi bồ kết lá bưởi thơm dịu, quanh sân,
chăn màn giăng như rạp xiếc. Tôi đi vội vào buồng, nội đang ngủ say, áo chăn
thay tươm tất. Tôi lại bên mẹ, đưa tay vuốt mái tóc dày, nhớ lại những cú giật
tóc tàn bạo, thấy thương mẹ quá!
Đến bữa, nội vùng vằng không ăn,
đòi sống đòi chết. Mẹ để tô cơm xuống, tuỳ, không ăn thì chết, tôi lấy cái nhà
ni! Mẹ nói, mắt ngó quanh chờ đợi. Nội như nổi điên, chửi rủa inh ỏi. Mẹ vẫn
nín nhịn. Mẹ càng nín, nội càng tức, chửi càng hăng. Đồ sát phu, quân giết người!
Giọng nội trong khoẻ đến lạ.
Mẹ quay ngoắt
qua nội, hai tay lay lấy thân người đang dán chặt dưới chiếu. Cũng tại những lời
của bà mà gia đình tôi tan nát, cũng tại sự ác độc của bà mà chúng tôi phải mỗi
người mỗi ngả, trả chồng cho tui, bà trả chồng cho tui! Đôi tay nội vươn chụp,
mớ tóc cuốn vào tay, rối nhùi. Nội mím môi giật điên cuồng. Mẹ quên đau, gào lớn,
chồng tôi đâu, anh Cò đâu, bà trả chồng cho tui, bà trả chồng cho tui! Nội khựng
lại, hai tay bất động, khuôn mặt đơ, mắt đứng tròng. Cả người nội như tảng băng
lớn gặp luồng khí nóng, rã tan. Cò ơi, con ơi! Mãi một lúc, nội khóc vống như đứa
trẻ. Tôi chết điếng, không lường được tình huống ni. Cũng không biết cứ để hai
người với nhau liệu có ổn không. Nhưng tôi biết phải làm thế nào?
Cả ngày bận họp, tôi không check
cam như mọi bữa. Về tới nhà, tôi đi thẳng vào buồng. Nội nằm, mắt nhắm hờ, đôi
môi phập phù theo từng hơi thở trông thật hiền từ. Sau nhà, mẹ đứng trước
gương, tay vuốt ve mái tóc, ánh mắt âu yếm lạ thường không biết đến sự hiện diện
của tôi. Tôi nhìn mẹ qua gương, dung mạo đó, nhan sắc đó, đáng ra phải được sống
một đời bình an. Bất ngờ mẹ đưa kéo xén một cái dứt khoát, lọn tóc đứt lìa. Tôi
lao về phía mẹ. Mẹ, mẹ làm chi rứa? Tôi sững người, hết nhìn mớ tóc đến nhìn
khuôn mặt thản không của mẹ. Mẹ nhẹ nhàng đặt lọn tóc xuống ghế, nghiêng người
qua gương, lấy kéo xén mấy chỗ còn lởm chởm. Nóng quá, cắt cho mát, mẹ nói tỉnh
không, mắt vẫn soi vào chiếc gương, tay tiếp tục tỉa những sợi tóc loe hoe.
Tôi lặng nhìn mái tóc dài đen mới
hôm qua hãy còn thơm bồ kết. Xứ tôi nắng nóng triền miên, nhưng phụ nữ chẳng ai
cắt tóc ngắn bao giờ, như mẹ càng không, trừ mấy người vô phước phải truyền hoá
chất. Mát, đỡ tốn công gội, mẹ trấn an tôi bằng câu tếu táo.
Chiếc camera trong buồng rõ mồn một từng hình ảnh. Mẹ lom khom mở
từng cúc áo, vắt khô chiếc khăn, đỡ lưng nội lau đi lau lại cặn kẽ. Mắt nội trợn
trừng, hai tay cố chộp mái tóc lúc này vừa đủ che lấy phần da đầu. Những cú chộp
trượt khiến mặt nội hằn nỗi hậm hực. Lòng tôi vỡ vụn. Vậy mà đã có lúc tôi tưởng
chính nỗi cô đơn mất mát khiến hai người họ xích lại gần nhau hơn, và rằng nội
tôi đã thức tỉnh.
Những cú vồ hụt khiến nội càng
điên tiết, miệng lầm bầm chửi rủa. Nhìn mẹ chăm nội, tôi không tin đó là cách
đáp trả của một người dâu bị ruồng rẫy. Mẹ nói chăm người già không khéo lại lở
loét, khổ người khổ mình thôi. Tôi nghe lòng nhão ra, thương mẹ không chịu được.
Đời mẹ phải chịu thiệt thòi đủ đường, tôi không biết bù đắp kiểu chi cho vừa
thương.
Vuốt mái tóc cũn cỡn, tôi lặng
đi, cố nén một câu không đầu không cuối. Mẹ xì xì, ăn thua chi, kệ bả đi, con cứ
yên tâm làm việc, mẹ chịu được mà! Mẹ sẽ không bỏ con đi nữa đúng không, tôi gần
như suýt nói ra câu đó. Mẹ quay nhìn tôi, khẽ cười, như thể nói tuổi ni rồi,
không chi làm khó mẹ được nữa đâu.
Tôi tựa vào vai mẹ, siết lấy bàn
tay gầy, cả hai lặng ngó ra phía mặt đầm. Bãi sậy rì rào đón gió, từng vạt dừa
nước lá xanh miên man, lũ cò nhạn từ đâu tìm về, đông nhung nhúc khiến thuỷ
sinh vùng hồ như thuở hồng hoang. Chiếc đầm quanh năm ngập nước, mùa lũ, sông
Bàn Thạch dẫn nước từ thành phố đổ vào, chiếc đầm như vòng tay mẹ, nới rộng ra
mãi, bao nhiêu cũng vừa. Mùa khô hạn, người ta đưa nước từ đầm qua các con
mương dẫn về những đám ruộng khô cằn, tưới tắm những khu vườn đói nước vàng mắt
lá. Gọi là sông thế thôi, nước mấy khi chảy bao giờ.
Không hẹn mà mắt hai mẹ con đổ về
góc đầm, nơi chiếc thuyền nhỏ ghếch mũi vào bờ cỏ, nơi ngày xưa có cha, mớ tôm
cá đầy nò, lòng thuyền một vài bông súng trắng, ánh mắt cha thật hiền, nụ cười
hóm hỉnh gọi Mây ơi!
H.L
