Còn bông cúc
vàng ở lại (Nxb Hội Nhà văn, 2024) của tác giả Bùi Thị Diệu là hành trình trở về
những miền sâu kín của kí ức và tâm hồn. Mỗi bài thơ như một cánh cửa hé mở
không gian nội tâm đa chiều kích trong đời sống của chủ thể thơ: ánh sáng và
bóng tối, đủ đầy và mất mát, kiên định và hoài nghi, tự tin và mặc cảm, khát
khao và chấp nhận. Đọc tập thơ, ta bắt gặp một giọng thơ nữ dịu dàng, nhạy cảm,
lãng mạn mà không kém phần mạnh mẽ, điềm nhiên, lí trí; ghim vào ý niệm độc giả
những câu hỏi về nguồn cội, về sự tồn tại, về hành trình trưởng thành từ yêu
thương đến tổn thương, và ngược lại.
Thi tập dày dặn
với 42 bài, chia thành 4 mạch, được liên kết tự nhiên, chặt chẽ theo độ mở dần
của cảm xúc, đưa người đọc đi từ kí ức riêng tư tới những chiêm nghiệm rộng lớn
hơn.

Những bài thơ mở
đầu dẫn về khung cảnh thôn quê, nơi mà kí ức của người thơ được ươm mầm và nuôi
dưỡng. Từ hình ảnh dung dị của người thân: “mẹ phơi chén đũa dưới nắng mùa
đông/ lũ thược dược lay ơn vừa thắm/…/ những chiếc đũa gối vào nhau/ xoay
tròn/…/ những chiếc bát trắng tinh/ khát nỗi đầy/ giêng hai mùa gạo mới” (Còn
bông cúc vàng ở lại), đến bóng quê mộc mạc: “những nếp nhà xiêu dáng quê xưa/ lối
mòn cỏ dại/ bên ruộng lúa dệt thô tấm áo làng cằn cỗi/ bên đồng muối đựng đầy
bóng tối/ ngóng mặt trời lên” (Làng), cho đến nỗi khắc khoải về căn cước: “con
hỏi làm gì gia phả?/ cha đã bước chân qua ngưỡng cửa/ ai nói cho con về dòng
máu chảy trên mười ngón tha hương/…/ người không có làng để thương về/ người có
xót xa” (Vườn cũ)… Tất cả được khắc họabằng ngôn ngữ thơ đằm thắm, da diết, gợi
không gian quê kiểng xa ngái thấm đẫm nỗi nhung nhớ, mong ngóng suốt cuộc đời
người xa xứ. Những bài thơ này giống như phần cội rễ của cây, cắm bám sâu trong
lòng đất, nuôi dưỡng thế giới nội tâm, thế giới nghệ thuật của chính tác giả,
cũng là nhân vật trữ tình. Từ đó xác định bản thể thơ, danh tính người thơ, làm
động lực để nâng bước người ra đi, làm nơi chốn để dìu dắt người tìm về: “Từ ngọn
cây ổi sẻ/ con mơ biển cả đại ngàn” (Còn bông cúc vàng ở lại), “có một tên làng
trong giấc mơ tôi/ nỗi tha hương nuôi lớn thêm nỗi thèm trở về vục chân vào
cát/ khóc thầm lần nữa những ấm ức trẻ thơ bên hiên nhà hút gió” (Làng).
Bùi Thị Diệu
dành nhiều trang viết về những mảnh đời hiện ẩn xung quanh như người mẹ, người
mẹ tuổi mười lăm, người bà, người góa phụ vạn chài, người thợ, người đàn ông trở
về từ chiến trường, con trai, những đứa trẻ sinh ra từ làng… hay về chính bản
thân người phụ nữ đang lần tìm bản sắc và tiếng nói của mình trong bộn bề vai vế,
khi “bàn tay năm ngón cầm mòn thời gian”. Có những bài thơ chứa đựng nhiều đối
thoại nội tâm, chất suy tư và lòng trắc ẩn: “người về từ chiến trường/ máu
không quý bằng nước nhưng vết thương là thật/ cơn sốt sáu lớp chăn rách vẫn còn
run bần bật/ bát cháo xanh màu rau” (Người đã tìm ra chưa), “từ chợ Chè về chợ
Cộn/ bếp lửa dậy từ tinh mơ/.../ khói lẫn vào sương mọc ban mai/ lo toan đầy một
gánh” (Tình yêu đầy một gánh), “khởi lên từ cơn đau dậy thì/ cô bé cúi xuống
che bầu ngực vừa mọc/ vệt máu lo âu/ người đàn bà nào mong bước ra khỏi chữ EM
ngọt như viên thuốc bọc đường/ đắng như viên thuốc bọc đường” (Khởi lên từ cơn
đau dậy thì), “mẹ để lại cho con hi vọng và tình yêu/ đôi tay của người làm vườn/
ý chí tự do của gió/ trái tim nồng nàn lửa đỏ” (Con trai). Đó không chỉ là chuyện
trong một gia đình, mà còn là câu chuyện của bao thân phận, bao thế hệ sau những
biến động triền miên của đời sống.

Ở một mạch khác,
thi tập ghi lại những va đập dịu dàng của tình yêu, của những cuộc gặp gỡ và
chia xa. Giọng thơ khi thiết tha nồng nàn: “mái che cũng là Anh/ Anh cũng là
Mưa/ là Mùa trên tuổi em là Màu trên mắt em là giọt máu cơn đau/ cho chữ Em nép
vào sinh nở” (Bắt đầu từ mái nhà), “những đường mềm mại/ cong/ chúng ta cài vào
nhau/ làm nên sự sống” (Ý niệm); khi lại ngập tràn hồ nghi: “có phải em đã để mất
anh/ lạc rất xa và cứ thế đi qua nhiều trang sách mở” (Ý niệm), “có phải đây là
nơi chốn của tôi/ mùa thu ngọt ngào tuổi thơ/…/ hay tôi thuộc về mùa thu vàng
phai/ tầng lá mục nâu ải xốp mềm/…/ hay tôi là mùa thu bão lũ chẳngthể nào dự
đoán/ kiếm tìm và đi hoang…” (Mùa dâu da chín đỏ); khi bùng lên khát khao mạnh
mẽ: “những hoang vắng điên cuồng tận cùng tuổi trẻ” (Biển nơi đâu còn thức),
“em cứ khóc đi hờn đi níu giữ đi chiến đấu đi buông bỏ đi/ chúng ta là những kẻ
rong chơi một lần trong mãi mãi” (Cùng rất nhiều mùa hoa); khi lại trầm tĩnh
như chưa hề chia ly: “có nghĩa gì đâu/ dài thêm một ngày hay ít đi một ngày/ một
đêm xanh non một ngày tím mờ” (Những đêm trăng mềm). Những bài như Em làm sao đủ
đốt mình thành ánh sáng, Một thoáng trăng, Em cứ đứng dựa lưng vào tường, Em đổ
lên anh từng dải cầu vồng… cho thấy sự mong manh, đa mang của tính nữ trong
hành trình yêu, nhưng cũng bộc lộ khát vọng được sống hết mình, một lần hay
thêm một lần “trượt khỏi đường biên của mùa”, “đòi sắc xanh khác sắc vàng
khác”, cháy trọn vẹn trong nhịp rung thật sự của con tim.
"cái yêu của Bùi Diệu không bùng nổ, mãnh liệt, si cuồng, bất chấp như những nữ thi sĩ khác. Cái yêu đó mềm mại, nồng nàn mà biết giữ khoảng lặng để khép mình trong khuôn mẫu, da diết mà không phô trương, say mê mà không bi lụy".
Tuy nhiên, cái
yêu của Bùi Diệu không bùng nổ, mãnh liệt, si cuồng, bất chấp như những nữ thi
sĩ khác. Cái yêu đó mềm mại, nồng nàn mà biết giữ khoảng lặng để khép mình
trong khuôn mẫu, da diết mà không phô trương, say mê mà không bi lụy. Chị tạo
được sắc giọng riêng ở sự chín chắn, tự nghiệm và độ trầm tĩnh của người đã đi
qua nhiều va đập mà vẫn giữ được nguồn sáng thầm lặng bên trong.
Tập thơ còn mở rộng
đến những suy tư về thiên nhiên, thời gian và những vết thương nhân loại. Những
bài thơ như Con trai, Mơ núi, Cơn mưa, Một mình một đêm… đặt con người nhỏ bé
giữa những biến chuyển lớn lao của thế giới. Từ đó gợi lên những ưu tư, trăn trở
của nhân xưng “chúng tôi” - “những giọt nâu trầm”, những người “tập tành uống nỗi
buồn tỏ ra sành điệu/ trong vòng khói thuốc ấm”, những người “từng ước như cây/
kiếp sau đứng giữa trời mà reo/ có tiếng reo nào không như lời khóc” (Những cây
thông quanh đàn Nam Giao).
Cảm quan thời
gian trong thơ Bùi Thị Diệu không mang sắc thái bi quan hay tuyệt vọng, mà
thiên về suy ngẫm nhẹ nhàng. Thời gian hiện lên như một dòng chảy liên tục, “vừa
kết thúc vừa bắt đầu”, cuốn theo những mất mát, hư hao nhưng gạn lọc lại những
điều bền bỉ nhất trong hành trình trưởng thành của bản thể. Trong nhiều bài
thơ, thời gian không mang tính hủy hoại, mà là nguồn soi sáng, được nâng giữ và
trao truyền, “bà lại thay ông lên dây cót đồng hồ/ khởi những vòng sáng bạc”
(Vườn cũ), giúp nhân vật trữ tình hiểu hơn về chính mình, về những gì cần giữ
và những gì nên buông: “tôi nghĩ đến tháng hai trên những cành bàng/ hàng ngàn
ngọn nến xanh sẽ mạnh mẽ vươn lên/ lá sẽ rợp bầu trời mùa hạ” (Khi những cây
bàng đổ lá qua sân).
Nhờ vậy, mạch
thơ thời gian của Diệu luôn có độ trầm, độ sâu, nhưng vẫn ánh lên vẻ bình thản.
Giọng thơ thầm thì, sâu lắng, luôn hướng về sự tích cực, như những tia nắng giữa
mù sương vẫn giăng mình tỏa sáng.
Điểm nổi bật, đặc
sắc của Còn bông cúc vàng ở lại là sự liên nối giữa những miền kí ức cá nhân với
nếp sống cộng đồng, với nỗi buồn chung của nhân thế. Ngôn ngữ thơ vừa hiện đại
vừa truyền thống, vừa cao thanh vừa trầm ổn, vừa sôi nổi vừa lo âu, giàu nhạc
tính, giàu hình ảnh, cảm xúc kết tinh và cô đọng. Thi giới là một vườn thực vật
mênh mông, muôn hình, đa hương với những thược dược, lay ơn, cúc vàng, quỳnh,
sen, sứ, dâu da, huỳnh anh, nguyệt quế, sầu đông… xuất hiện dày đặc như những
kí hiệu thẩm mĩ. Màu sắc cũng trở thành một nét đặc trưng của hình dung và xúc
cảm: trắng bạc, xanh non, vàng phai, nâu ải, tím mờ… tạo nên những lớp áo thơ
liên tục biến chuyển. Chính nét đa thanh đa sắc đa hình này làm cho hồn thơ của
nữ thi sĩ vừa mộc mạc gần gũi, vừa có sức ngân vang, lắng đọng. Bùi Thị Diệu,
trong tập thơ đầu tay này, viết với một độ lùi vừa đủ để bao quát đời sống, độ
chín vừa đủ để nâng niu những điều đã qua và đang có, mà vẫn giữ được sự nguyên
sơ của cảm xúc, của hồi ức. Thi phẩm, vì thế, chạm đến độc giả bằng sự chân
thành, bằng những va vọng rất gần, rất thật, rất sâu.
Khi gấp lại tập
thơ, hình ảnh “bông cúc vàng” cứ hiện ra, cứ neo lại như một biểu tượng vĩnh cửu
của tình yêu và hi vọng. Dẫu “thời gian rơi đầy hai tay”, đời sống qua bao mùa
gió, qua bao chờ đợi hao gầy, huy hoàng và tàn lụi, lành lặn và đổ vỡ, thì kí ức,
đức tin và tình yêu thương vẫn còn luôn ở lại, “ấm như mặt trời”. Bùi Thị Diệu
với Còn bông cúc vàng ở lại, quả thật, đã vẽ thêm một nét thanh trầm, khiêm nhường
và tinh tế vào bức tranh thơ nữ Việt Nam đương đại.
H.A
