Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Nhà thơ Tố Hữu với Bảo Ninh

HỒ NGỌC DIỆP    22/07/2026    21
Kể chuyện nhà thơ Tố Hữu với Bảo Ninh - xã cát bên kia sông Nhật Lệ, đối diện thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình cũ - nhiều người sẽ nghĩ ngay đến bài thơ Mẹ Suốt. Đó là tác phẩm khắc họa hình tượng người mẹ anh hùng đã kiên cường chèo đò chở bộ đội qua sông dưới mưa bom bão đạn, trong những ngày đầu Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang bắn phá miền Bắc.

Thế nhưng, khi tìm đọc cuốn Địa chí Bảo Ninh của nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Tú (do Sở Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên ấn hành năm 1986), chúng tôi được biết, năm 1942, sau khi vượt ngục, nhà thơ xứ Huế đã bôn tẩu ra Bắc theo yêu cầu của tổ chức cách mạng. Trên con đường thiên lý đó, nhà thơ từng dừng chân nghỉ lại (bao nhiêu ngày không rõ) tại xóm Bùn, phường Phú Hải, phía nam cầu Dài thành phố Đồng Hới. 

Thuở đó, xóm Bùn chỉ có vài ba chục nóc nhà, người dân chuyên nghề làm ví sáo, mò cua, bắt ốc ven sông Nhật Lệ. Trong những ngày gian khổ được nhân dân cưu mang ấy, nhà thơ đã từng lần bước sang Bảo Ninh: “Lúc đó là một dãy cát trắng, trắng bạc phơ, trông xơ xác, trắng bạch, nghèo lắm. Đi từ đầu xóm đến cuối xóm, không có nhà ngói, toàn những mái nhà tranh chật chội, xiêu vẹo” (lời Tố Hữu - Dẫn theo cuốn Địa chí Bảo Ninh). 

Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc. Đồng Hới và Bảo Ninh là những trọng điểm bị giặc đánh phá ác liệt đầu tiên. Trong gian khổ, vùng đất này đã nở rộ những bông hoa anh hùng với phong trào “Hai giỏi”. Là Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương lúc bấy giờ, nhà thơ Tố Hữu - như con ong đi hút nhụy đời - đã bất chấp nguy hiểm để đến với Quảng Bình, đến với Đồng Hới, đến với Bảo Ninh trong tâm trạng khát khao, thôi thúc:

Đường vào khu Bốn, vào Thanh

Không đi thì nhớ, không đành, phải đi!

                                                  (Đường vào)

Chính trong chuyến đi này, Tố Hữu đã gặp mẹ Nguyễn Thị Suốt - người mẹ anh hùng chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ giữa trùng vây bom đạn của quân thù. Bài thơ Mẹ Suốt đã ra đời trong những ngày đó:

Lặng nghe mẹ kể ngày xưa

Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình.

Theo lời kể của cố Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Tư Thoan, khi vào làm việc ở Quảng Bình, nhà thơ Tố Hữu đã đi thăm, tìm hiểu nhiều cơ sở, địa phương. Dù vậy, theo nguyện vọng của nhà thơ, giữa trưa ngày 4/11/1965, tổ chức đã mời mẹ Suốt đến gặp ông tại nhà khách Tỉnh ủy. Trong lần gặp đó, nhà thơ đã ghi lại những câu hỏi của mình và những câu trả lời của mẹ Suốt. Và chính từ cuộc trò chuyện chân tình ấy, bài thơ Mẹ Suốt đã ra đời. Cấu tứ bài thơ như một thiên phóng sự, bên hỏi bên đáp. Ví dụ: 

Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:

Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?

Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu

Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!

Chồng mẹ Suốt là cụ Trần Bạo, sinh năm 1910. Trước đó cụ đã có 3 con trai nhưng vợ qua đời sớm. Mẹ Suốt “chắp đòn gánh” cùng cụ và sinh hạ thêm 4 người con nữa. Những ngày Mỹ đánh phá Quảng Bình cũng là lúc những hợp tác xã ngư nghiệp ở vùng sông nước Nhật Lệ có phong trào “Xuất quân”. Đó là phong trào “Đi tìm bãi cá” để tăng sản lượng đánh bắt hải sản ở những bãi ngang dọc biển, từ cửa Nhật Lệ vào đến xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh. Còn mẹ Suốt được Ủy ban nhân dân xã Bảo Ninh giao cho việc thường trực, sẵn sàng chèo đò chở cán bộ, bộ đội qua sông. Mẹ đã kể và nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại:

Ông nhà theo bạn “Xuất quân”

Tui nay cũng được vô chân “Sẵn sàng”

Nếu chỉ đơn thuần ghi lại lời kể của nhân vật ngoài đời, bài thơ sẽ khô khan. Cái tài của Tố Hữu là vừa kể lại vừa bình nên bài thơ giàu tính tự sự lại sâu đậm tính trữ tình, nhờ thế đã nâng cao tầm vóc của nhân vật anh hùng, nâng cao tầm vóc bài thơ.

Sợ chi sóng gió tàu bay

Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua

Kể chi tuổi tác già nua

Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng

Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ…

Nhà thơ Xuân Diệu có lần bình hai câu thơ cuối của khổ thơ trên, cho đó là hình ảnh đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam anh hùng trong thơ ca xưa cũng như nay.

Cuối năm 1968, Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc. Nhà thơ Tố Hữu, lúc này là Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, lại có những chuyến đi vào khu Bốn, vào Quảng Bình. Ngày 20/2/1969, Tố Hữu đã đến Bảo Ninh, gặp gỡ và nói chuyện gần một buổi với cán bộ và nhân dân ở đây. Đây là lần thứ hai trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông đặt chân đến mảnh đất này. Bài nói chuyện của nhà thơ Tố Hữu bị ngắt quãng nhiều lần bởi những tràng vỗ tay. Nhà thơ đã biểu dương những thành tích trong chiến đấu, sản xuất và nêu phương hướng những chặng đường tới của Đảng bộ và nhân dân xã Bảo Ninh. Nhà thơ nhấn mạnh những điều cần làm, phải làm. Tất cả mọi người đều sung sướng khi nghe những lời nói của nhà thơ: “Ngày xưa, ai biết đến người chèo đò qua lại ở đây, nhưng hôm nay, bà mẹ Suốt, chị Khíu đã có tiếng tăm trong nước và trên thế giới”. “Ở trên dải đất này, bà con ta sống và chiến đấu như những người cộng sản. Và thực tế đã có những người sống và chiến đấu như những người cộng sản rồi” (Dẫn theo cuốn Địa chí Bảo Ninh).

Sau khi được phong anh hùng, mẹ Suốt được đi thăm nhiều nơi và vinh dự được gặp Bác Hồ. Thời gian mẹ Suốt vắng bến, xã đội Bảo Ninh đã bố trí các nữ dân quân xuống đò cầm chèo chở khách qua sông thay mẹ. Khi trở về, mẹ vẫn chân chất một ý nghĩ: “Hãy để tui chèo đò thay các o dân quân lên bến để có thêm tay súng diệt Mỹ”. Nguyện vọng của mẹ được UBND tỉnh Quảng Bình chấp thuận. Mẹ lại kiên cường trở lại cầm chèo qua sông Nhật Lệ (lúc bấy giờ bến đò đã phải sơ tán về bến sông xã Phú Hải, Đồng Hới), và rồi mẹ đã ngã xuống khi đang làm nhiệm vụ trên sông chiều 22/8/1968. Sau đó Nhà nước đã truy tặng mẹ danh hiệu liệt sĩ. Trong chuyến đi này, nhà thơ Tố Hữu xúc động trước chiến công của mẹ nên đã gửi gắm tình cảm của mình vào bài thơ Một khúc ca. Hình tượng mẹ Suốt một lần nữa hiện lên sống động với khí thế lẫm liệt:

Mẹ Suốt ơi!

Giữa bom rơi, đạn nổ

Giữa sóng lớn, gió to

Ngực huân chương, mẹ vẫn chèo đò

Không chịu nghỉ, ai ngăn cứ nói:

“Tui già rồi, có chết khỏi lo

Bọn trẻ sống còn tay bắn giỏi”

Và mẹ ngã

Bên bờ sông khói lửa

Người dân Bảo Ninh còn nhớ, sau ngày Hiệp định Paris ký kết (27/1/1973), UBND tỉnh Quảng Bình phối hợp với UBND thị xã Đồng Hới huy động toàn dân đi sửa đường, làm cầu nhằm giữ cho mạch giao thông luôn thông suốt, để đưa hàng, đưa người tiếp tục vào chi viện cho miền Nam. Bà con đã dùng thuyền cá của mình để chở đất đá về lấp ngầm sông Lũy, cho cầu Dài phía nam thị xã Đồng Hới nối Quốc lộ 1A trở lại thông thương. Sáng hôm đó, chiếc xe con chở nhà thơ Tố Hữu đi ngang qua thì bị lún. Ngay lập tức, mọi người đã cùng chung sức để đẩy xe. Sau khi vượt được quãng đường “chông gai” ấy, nhà thơ Tố Hữu đã bắt tay từng người làm đường vừa đẩy xe cho mình: 

- Các bác, các chú quê ở mô?

- Dạ thưa nhà thơ, chúng tôi ở bên kia Nhật Lệ, xã Bảo Ninh ạ!

Rồi có người đề nghị:

- Nhà thơ Tố Hữu ơi, đọc thơ cho chúng tôi nghe đi!

Ngẫm nghĩ một lúc, nhà thơ đọc ngay bài thơ ứng tác:

Đất trời xuân đã sang rồi

Nước non ngàn dặm sáng ngời long lanh

Bảo Ninh rồi lại tươi xanh

Quảng Bình mình lại như tranh họa đồ

Nắm tay ta lại cùng vô

Sài Gòn, Đà Nẵng, Kinh Đô dập dìu

Bài thơ ấy đến nay nhiều người dân Bảo Ninh vẫn còn thuộc. Và chính nó đã khích lệ lòng hăng say lao động của người dân biển Bảo Ninh, Đồng Hới trong những ngày tham gia chiến dịch “lấp cầu Dài”.

Bán đảo Bảo Ninh đang ngày càng trù phú, xanh tươi. Hai cây cầu hiện đại đã nối đôi bờ Nhật Lệ, đưa Bảo Ninh - Đồng Hới xích lại gần nhau. Vùng đất Quảng Bình đang ngày đêm chuyển mình để đẹp “như tranh họa đồ”. Nhưng nhà thơ Tố Hữu đã ra đi vào ngày 9/12/2002. Đâu còn nữa những lần gặp gỡ tri ân giữa nhà thơ xứ Huế, ngôi sao sáng của nền thơ ca cách mạng Việt Nam với người dân Bảo Ninh, người dân Quảng Bình. Thế nhưng, tiếng thơ trong bài thơ di chúc của ông vẫn như lời tâm tình, nhắn nhủ mọi người về một lẽ sống cao đẹp và tận hiến: Sống là cho. Chết cũng là cho

 H.N.D

____________

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Tú, Địa chí Bảo Ninh, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên ấn hành năm 1986.

2. Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục 1985.

3. Lịch sử Đảng bộ Đồng Hới (1930 - 1975), Tài liệu lưu trữ - Phòng Tuyên giáo Thành ủy Đồng Hới.

4. Đồng Hới một chặng đường lịch sử, UBND thị xã Đồng Hới - ấn hành tháng 8/2004.