Thế nhưng, khi tìm đọc cuốn Địa chí Bảo Ninh của
nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Tú (do Sở Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên ấn
hành năm 1986), chúng tôi được biết, năm 1942, sau khi vượt ngục, nhà thơ xứ Huế
đã bôn tẩu ra Bắc theo yêu cầu của tổ chức cách mạng. Trên con đường thiên lý
đó, nhà thơ từng dừng chân nghỉ lại (bao nhiêu ngày không rõ) tại xóm Bùn, phường
Phú Hải, phía nam cầu Dài thành phố Đồng Hới.
Thuở đó, xóm Bùn chỉ có vài ba chục nóc nhà, người dân
chuyên nghề làm ví sáo, mò cua, bắt ốc ven sông Nhật Lệ. Trong những ngày gian
khổ được nhân dân cưu mang ấy, nhà thơ đã từng lần bước sang Bảo Ninh: “Lúc
đó là một dãy cát trắng, trắng bạc phơ, trông xơ xác, trắng bạch, nghèo lắm. Đi
từ đầu xóm đến cuối xóm, không có nhà ngói, toàn những mái nhà tranh chật chội,
xiêu vẹo” (lời Tố Hữu - Dẫn theo cuốn Địa chí Bảo Ninh).
Tháng 2 năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang ra miền Bắc.
Đồng Hới và Bảo Ninh là những trọng điểm bị giặc đánh phá ác liệt đầu tiên.
Trong gian khổ, vùng đất này đã nở rộ những bông hoa anh hùng với phong trào
“Hai giỏi”. Là Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương lúc bấy giờ, nhà thơ Tố Hữu
- như con ong đi hút nhụy đời - đã bất chấp nguy hiểm để đến với Quảng Bình, đến
với Đồng Hới, đến với Bảo Ninh trong tâm trạng khát khao, thôi thúc:
Đường vào khu Bốn, vào Thanh
Không đi thì nhớ, không đành, phải đi!
(Đường vào)
Chính trong chuyến đi này, Tố Hữu đã gặp mẹ Nguyễn Thị Suốt
- người mẹ anh hùng chèo đò chở bộ đội qua sông Nhật Lệ giữa trùng vây bom đạn
của quân thù. Bài thơ Mẹ Suốt đã ra đời trong những ngày đó:
Lặng nghe mẹ kể ngày xưa
Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình.
Theo lời kể của cố Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Tư
Thoan, khi vào làm việc ở Quảng Bình, nhà thơ Tố Hữu đã đi thăm, tìm hiểu nhiều
cơ sở, địa phương. Dù vậy, theo nguyện vọng của nhà thơ, giữa trưa ngày
4/11/1965, tổ chức đã mời mẹ Suốt đến gặp ông tại nhà khách Tỉnh ủy. Trong lần
gặp đó, nhà thơ đã ghi lại những câu hỏi của mình và những câu trả lời của mẹ
Suốt. Và chính từ cuộc trò chuyện chân tình ấy, bài thơ Mẹ Suốt đã
ra đời. Cấu tứ bài thơ như một thiên phóng sự, bên hỏi bên đáp. Ví dụ:
Ghé tai mẹ, hỏi tò mò:
Cớ răng ông cũng ưng cho mẹ chèo?
Mẹ cười: Nói cứng, phải xiêu
Ra khơi ông còn dám, tui chẳng liều bằng ông!
Chồng mẹ Suốt là cụ Trần Bạo, sinh năm 1910. Trước đó cụ đã
có 3 con trai nhưng vợ qua đời sớm. Mẹ Suốt “chắp đòn gánh” cùng cụ và sinh hạ
thêm 4 người con nữa. Những ngày Mỹ đánh phá Quảng Bình cũng là lúc những hợp
tác xã ngư nghiệp ở vùng sông nước Nhật Lệ có phong trào “Xuất quân”. Đó là
phong trào “Đi tìm bãi cá” để tăng sản lượng đánh bắt hải sản ở những bãi ngang
dọc biển, từ cửa Nhật Lệ vào đến xã Hải Ninh, huyện Quảng Ninh. Còn mẹ Suốt được
Ủy ban nhân dân xã Bảo Ninh giao cho việc thường trực, sẵn sàng chèo đò chở cán
bộ, bộ đội qua sông. Mẹ đã kể và nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại:
Ông nhà theo bạn “Xuất quân”
Tui nay cũng được vô chân “Sẵn sàng”
Nếu chỉ đơn thuần ghi lại lời kể của nhân vật ngoài đời, bài
thơ sẽ khô khan. Cái tài của Tố Hữu là vừa kể lại vừa bình nên bài thơ giàu
tính tự sự lại sâu đậm tính trữ tình, nhờ thế đã nâng cao tầm vóc của nhân vật
anh hùng, nâng cao tầm vóc bài thơ.
Sợ chi sóng gió tàu bay
Tây kia mình đã thắng, Mỹ này ta chẳng thua
Kể chi tuổi tác già nua
Chống chèo xin cứ thi đua đến cùng
Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung
Gió lay như sóng biển tung, trắng bờ…
Nhà thơ Xuân Diệu có lần bình hai câu thơ cuối của khổ thơ
trên, cho đó là hình ảnh đẹp nhất của người phụ nữ Việt Nam anh hùng trong thơ
ca xưa cũng như nay.
Cuối năm 1968, Mỹ tạm ngừng ném bom miền Bắc. Nhà thơ Tố Hữu,
lúc này là Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, lại có những chuyến đi vào khu Bốn,
vào Quảng Bình. Ngày 20/2/1969, Tố Hữu đã đến Bảo Ninh, gặp gỡ và nói chuyện gần
một buổi với cán bộ và nhân dân ở đây. Đây là lần thứ hai trong cuộc đời hoạt động
cách mạng, ông đặt chân đến mảnh đất này. Bài nói chuyện của nhà thơ Tố Hữu bị
ngắt quãng nhiều lần bởi những tràng vỗ tay. Nhà thơ đã biểu dương những thành
tích trong chiến đấu, sản xuất và nêu phương hướng những chặng đường tới của Đảng
bộ và nhân dân xã Bảo Ninh. Nhà thơ nhấn mạnh những điều cần làm, phải làm. Tất
cả mọi người đều sung sướng khi nghe những lời nói của nhà thơ: “Ngày xưa, ai
biết đến người chèo đò qua lại ở đây, nhưng hôm nay, bà mẹ Suốt, chị Khíu đã có
tiếng tăm trong nước và trên thế giới”. “Ở trên dải đất này, bà con
ta sống và chiến đấu như những người cộng sản. Và thực tế đã có những người sống
và chiến đấu như những người cộng sản rồi” (Dẫn theo cuốn Địa
chí Bảo Ninh).
Sau khi được phong anh hùng, mẹ Suốt được đi thăm nhiều nơi
và vinh dự được gặp Bác Hồ. Thời gian mẹ Suốt vắng bến, xã đội Bảo Ninh đã bố
trí các nữ dân quân xuống đò cầm chèo chở khách qua sông thay mẹ. Khi trở về, mẹ
vẫn chân chất một ý nghĩ: “Hãy để tui chèo đò thay các o dân quân lên bến để có
thêm tay súng diệt Mỹ”. Nguyện vọng của mẹ được UBND tỉnh Quảng
Bình chấp thuận. Mẹ lại kiên cường trở lại cầm chèo qua sông Nhật Lệ (lúc bấy
giờ bến đò đã phải sơ tán về bến sông xã Phú Hải, Đồng Hới), và rồi mẹ đã ngã
xuống khi đang làm nhiệm vụ trên sông chiều 22/8/1968. Sau đó Nhà nước đã truy
tặng mẹ danh hiệu liệt sĩ. Trong chuyến đi này, nhà thơ Tố Hữu xúc động trước
chiến công của mẹ nên đã gửi gắm tình cảm của mình vào bài thơ Một khúc
ca. Hình tượng mẹ Suốt một lần nữa hiện lên sống động với khí thế lẫm liệt:
Mẹ Suốt ơi!
Giữa bom rơi, đạn nổ
Giữa sóng lớn, gió to
Ngực huân chương, mẹ vẫn chèo đò
Không chịu nghỉ, ai ngăn cứ nói:
“Tui già
rồi, có chết khỏi lo
Bọn trẻ
sống còn tay bắn giỏi”
Và mẹ
ngã
Bên bờ
sông khói lửa
Người dân Bảo
Ninh còn nhớ, sau ngày Hiệp định Paris ký kết (27/1/1973), UBND tỉnh Quảng Bình
phối hợp với UBND thị xã Đồng Hới huy động toàn dân đi sửa đường, làm cầu nhằm
giữ cho mạch giao thông luôn thông suốt, để đưa hàng, đưa người tiếp tục vào
chi viện cho miền Nam. Bà con đã dùng thuyền cá của mình để chở đất đá về lấp
ngầm sông Lũy, cho cầu Dài phía nam thị xã Đồng Hới nối Quốc lộ 1A trở lại
thông thương. Sáng hôm đó, chiếc xe con chở nhà thơ Tố Hữu đi ngang qua thì bị
lún. Ngay lập tức, mọi người đã cùng chung sức để đẩy xe. Sau khi vượt được
quãng đường “chông gai” ấy, nhà thơ Tố Hữu đã bắt tay từng người làm đường vừa
đẩy xe cho mình:
- Các bác,
các chú quê ở mô?
- Dạ thưa nhà thơ, chúng tôi ở bên kia Nhật Lệ, xã Bảo Ninh ạ!
Rồi có người đề nghị:
- Nhà thơ Tố Hữu ơi, đọc thơ cho chúng tôi nghe đi!
Ngẫm nghĩ một lúc, nhà thơ đọc ngay bài thơ ứng tác:
Đất trời xuân đã sang rồi
Nước non ngàn dặm sáng ngời long lanh
Bảo Ninh rồi lại tươi xanh
Quảng Bình mình lại như tranh họa đồ
Nắm tay ta lại cùng vô
Sài Gòn, Đà Nẵng, Kinh Đô dập dìu
Bài thơ ấy đến nay nhiều người dân Bảo Ninh vẫn còn thuộc.
Và chính nó đã khích lệ lòng hăng say lao động của người dân biển Bảo Ninh, Đồng
Hới trong những ngày tham gia chiến dịch “lấp cầu Dài”.
Bán đảo Bảo Ninh đang ngày càng trù phú, xanh tươi. Hai cây
cầu hiện đại đã nối đôi bờ Nhật Lệ, đưa Bảo Ninh - Đồng Hới xích lại gần nhau.
Vùng đất Quảng Bình đang ngày đêm chuyển mình để đẹp “như tranh họa đồ”. Nhưng
nhà thơ Tố Hữu đã ra đi vào ngày 9/12/2002. Đâu còn nữa những lần gặp gỡ tri ân
giữa nhà thơ xứ Huế, ngôi sao sáng của nền thơ ca cách mạng Việt Nam với người
dân Bảo Ninh, người dân Quảng Bình. Thế nhưng, tiếng thơ trong bài thơ di chúc
của ông vẫn như lời tâm tình, nhắn nhủ mọi người về một lẽ sống cao đẹp và tận
hiến: Sống là cho. Chết cũng là cho.
H.N.D
____________
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Tú, Địa chí Bảo Ninh, Sở
Văn hóa - Thông tin Bình Trị Thiên ấn hành năm 1986.
2. Thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục 1985.
3. Lịch sử Đảng bộ Đồng Hới (1930 - 1975), Tài
liệu lưu trữ - Phòng Tuyên giáo Thành ủy Đồng Hới.
4. Đồng Hới một chặng đường lịch sử, UBND thị xã Đồng Hới - ấn hành tháng 8/2004.
