Sáng tác thơ là một
cuộc chơi trí tuệ. Diễn trò từ khoái cảm của cái tôi bản thể, từ chất liệu đa tầng
của cuộc sống hay khuynh hướng tạo sinh, khiêu khích với những con chữ,… đều tạo
nên sự đa dạng, phong phú cho thi ca. Mỗi thi sĩ có một “cách thế” chơi.
Cái
hay của thi ca
Trong
tập Thơ đến từ đâu, trả lời phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng về công việc làm
thơ, Thanh Thảo cho rằng: “Thơ là chơi hơn là làm việc, nhưng cái chơi này nhiều
khi tóe máu, chứ chả chơi!”1. So với các loại thể khác, xem chừng thơ có vẻ dễ dãi,
nhẹ nhàng hơn. Thực chất, đó là một cuộc chơi đòi hỏi sự cân bằng tinh tế giữa
trí tuệ và cảm xúc. Nếu chạy theo lạ hóa thơ, nhiều khi vô tình “giết chết” cảm
xúc. Nếu nghiêng hẳn về cảm xúc, thơ thiếu sức nặng của trí tuệ. Do vậy, đổi mới
thơ là nhu cầu thiết thực hàng đầu. Vì ý thức làm mới thơ luôn là nguồn động lực
tự thân, cổ vũ tinh thần sáng tạo cho thi sĩ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thơ
dung nạp vào nó mọi vấn đề của xã hội, từ cao thượng xuống thấp hèn, từ trung
tâm ra ngoại vi. Tuy nhiên, dù là chủ đề nào, thơ phải hay, phải thực sự sống động,
phải tuôn chảy từ chính trái tim của thi sĩ.
Định nghĩa thế nào là một bài thơ hay là điều bất khả. Mỗi thời
kì, mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu, đều có những quan niệm khác nhau về thơ. Bản
thân mỗi người cũng có những tiêu chí đánh giá khác nhau. Nhưng chúng ta không
thể phủ nhận hai phần kiến tạo sinh thể bài thơ: thể xác (ngôn từ, hình thức
nghệ thuật) và linh hồn (nội dung, cảm xúc). Hai phần này bao giờ cũng gắn bó,
tương tác qua lại. Vậy, có những bài thơ hay song chỉ có thể cảm nhận là hay mà
không thể lý giải được vì sao hay? Để đánh giá thơ, đòi hỏi người đọc ít nhiều
phải có: kiến thức, trí tuệ, năng lực thẩm bình, sự nhạy cảm, tinh tế, tính đồng
sáng tạo,… Nhưng không phải được trang bị nhiều thứ là có thể cắt nghĩa thơ. Ví
dụ, dạng thơ kỳ bí, lạ hóa thường được thi sĩ mã hóa theo quan niệm mỹ học mới
(đôi khi người đọc chưa tiếp cận được hoặc còn khá lạ), thậm chí còn đẩy vào đó
chiến lược “phì đại” ngôn ngữ, vì thế, đòi hỏi người đọc cần chú ý những điểm
mà bài thơ ám ảnh, dừng lại ngẫm ngợi, rồi dùng tư duy trừu tượng cảm nhận cõi
giới tinh thần độc đáo ấy. Theo tôi, đó cũng là một cách cảm nhận cái hay, cái
khác của dạng thơ “kỳ bí”. Bởi lẽ cái đẹp, cái hay của nghệ thuật thường không
đơn thuần ghi nhận ở sự minh bạch, hữu hình mà ghi nhận ở sự ấn tượng, mê hoặc,
vẫy gọi.
Nói
về thơ hay, Nguyễn Đức Tùng khẳng định với nhà thơ Thanh Thảo: “Thơ hay chưa chắc
đã phải là vấn đề cuối cùng duy nhất đâu anh ạ. Mối quan hệ giữa cái mới và cái
hay rất phức tạp. Có cái mới mà không hay, và chắc chắn sẽ không hay, có cái mới
chưa hay, nhưng sẽ hay, có cái mới mà ngay lập tức đã hay”2. Thi sĩ là người
luôn khao khát khám phá và mô tả cái tôi, biến nỗi niềm riêng tư của chính mình
thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Khi nỗi niềm ấy chuyển hóa vào thơ, nó không còn
là khoái cảm riêng của thi sĩ nữa mà đã trở thành khoái cảm chung của toàn nhân
loại. Nhưng để thơ lan tỏa sức hấp dụ, trở thành nguồn khoái cảm của nhân loại,
thi sĩ phải là người biết tìm ra lối viết riêng. Nỗ lực kiếm tìm lối viết riêng
chính là nỗ lực kiếm tìm cái mới. Ở góc độ này, cái mới liên quan đến sự tồn tại
và khả năng diễn giải, điều tiết của cái tôi. Ý thức khước từ, đả phá cái cũ đã
có trong bản thân mỗi thi sĩ chứ không phải chắp nhặt từ bên ngoài. Cái mới là
cái nảy sinh từ bên trong cái tôi bản thể của mỗi thi sĩ, cho nên, cách thức tạo
cái mới cũng không ai giống ai. Như vậy, cái mới thể hiện ở sự viết và những ý
tưởng mà thi sĩ chuyển tải trong đó. Cái mới đạt đến cái hay thì nó phải tạo được
ấn tượng, hứng thú với độc giả. Cái hay lại đòi hỏi hay cả về nội dung lẫn hình
thức. Vậy, giữa cái mới và cái hay, cái nào là ngọn, cái nào là gốc? Cái hay có
phải chắc chắn là cái mới không? Có cái hay không mới, thậm chí cũ thì sao?
Không những thế, đánh giá cái hay, cái mới còn tùy thuộc vào thị hiếu của từng
giai đoạn. Có thể giai đoạn này là hay là mới, nhưng ở giai đoạn sau, cái hay,
cái mới ấy lại không còn hay, không còn mới nữa.
Quả
đúng vậy, khó có thể rạch ròi tiêu chí giữa cái hay và cái mới. Hiện thực đi
qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị quy chiếu, ảnh hưởng bởi những rung
chấn của anh ta. Hay nói cách khác, cảm xúc quyết định vận mệnh sản phẩm mà thi
sĩ thiết kế. Cái hay, cái mới thực chất như hai mặt của một tờ giấy, đều được
kiến tạo từ chính thế giới tâm hồn, sự thận trọng về mặt ngôn từ của thi sĩ, và
những tác động từ phía độc giả. Do đó, để thơ hay, thi sĩ phải là người học
cách tạo ra những chấn thương cho tâm hồn.
Nỗi
buồn lộng lẫy của thi nhân
Tại
sao nhà thơ muốn “được buồn”? Tại sao thơ lại chọn nước mắt? Lẽ thường, con người
luôn có nhu cầu an lành, êm ấm. Với thi sĩ thì ngược lại. Vui chung buồn riêng.
Nỗi buồn vốn dĩ là một dạng thức vô hình, nên chạm vào nỗi buồn một lần hay chạm
thêm nhiều lần nữa, chắc gì tường tận, khám phá hết được các chiều kích và cung
bậc của nó. Nói như vậy để thấy nỗi buồn luôn bí ẩn và có sức cuốn hút lạ lùng
với người nghệ sĩ. Nỗi buồn mang đến những biểu cảm dạt dào cũng như ma lực hấp
dẫn của ngôn ngữ. Khoảng cách vừa gần lại vừa xa của nỗi buồn có khả năng thiết
kế vũ điệu tâm hồn thi sĩ. Chỉ ở những điểm đau, nút thắt tê tái, buốt xót thì
thơ mới có độ lan tỏa, tác động mạnh đến người đọc. Trong tận cùng cô đơn, tuyệt
vọng, nhà thơ mới thực sự vật lộn kịch liệt với cái tôi để truy tìm bản thể. Và
cũng chỉ có con đường này, nhà thơ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính
mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ,
cái độc. Như thế, ý thức bản thể lớn chừng nào thì sáng tạo thăng hoa chừng đó.
Nỗi buồn, nỗi cô đơn, do vậy, là đặc ân, món quà vô giá mà tạo hóa trao tặng
cho người nghệ sĩ. Cô đơn để viết. Nguyễn Hưng Quốc bàn về sự viết như sau: “Viết để ngay cả những
điều phức tạp nhất cũng có thể được đọc và được hiểu là một cái thú. Viết để đạt
đến cái cõi bất khả độc (unreadability) và bất khả quyết (undecidability) lại
là một cái thú khác, cái thú thám hiểm vào những vùng biên ải xa xôi không những
hiếm người mà còn hiếm cả ánh sáng nữa; ở đó, người ta có thể đùa nghịch với
bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết”3. Trên vùng-đất-tâm-hồn
không có một vết dấu của ai khác ngoài sự suy ngẫm và tưởng tượng của bản thân
người nghệ sĩ. Vậy, viết để “đùa nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết” chính là một khoái
thú hết sức đặc biệt của người nghệ sĩ trong hành trình tìm cái mới và cái hay.
Cảm xúc, liên tưởng khác nhau hình thành những bài thơ khác
nhau. Nếu phơi cảm xúc một cách lộn xộn, ắt gây tổn hại đến giá trị, hiệu ứng
thẩm mỹ của thơ. Cảm xúc cần sắp xếp, tạo khối vững chãi. Khối vững chãi ấy là
thi tứ. Do đó, một trong những yếu tố làm nên sự khác nhau, đánh giá mức độ cái
hay, cái mới của bài thơ còn tùy thuộc vào cách lập tứ. Nhà thơ phải biết “kiến
trúc chữ thành thi tứ” (Hồ Thế Hà). Thi tứ quyết định chất lượng bài thơ và tài
năng của người nghệ sĩ. Sự kết hợp “đắt” giữa ý tưởng, cảm xúc, hình ảnh, ngôn
từ, nhạc điệu,... đảm bảo những bài thơ hay, độc đáo, ấn tượng.
Theo
Hồ Thế Hà: “Thơ theo khuynh hướng nào không quan trọng, tùy nhu cầu
thời đại và nhu cầu của chính quy luật thi ca, nhưng thơ phải hay, phải nói được
nhu cầu và khát vọng nhân sinh, đó mới là mục đích của quá trình sáng tạo và tiếp
nhận”4. Người đọc không nên lấy một khuynh hướng sáng tác nào
làm tiền đề đánh giá thơ. Mỗi thi sĩ đều có cách diễn đạt, tư duy khác nhau, miễn
thơ làm ra hay, thể hiện được giá trị sống và giá trị người. Nói cách khác, thơ
hay là thơ xếp chồng cảm xúc của thi sĩ lên cảm xúc của mọi người, rồi tiếp tục
sóng đôi sự rung chấn ấy lên bạn đọc. Nhờ thế, nhu cầu và khát vọng nhân sinh
trong thơ mới được trừu xuất một cách thẩm mỹ. Lúc này, sự không tách rời giữa
tính nhân sinh và tính thẩm mỹ là thước đo sáng tạo, tiêu chí minh định cái hay
của thơ.
Hệ
lụy đời sống cho thi sĩ cách sống thật. Sống thật mới viết thật. Những cảm xúc,
cảm hứng xuất phát từ trái tim nóng hổi, tha thiết với người, rung động với đời
mới đạt đến hiệu lực của nghệ thuật quyến rũ, nghệ thuật cấp cao. Chỉ trong thế
giới thi ca, thi sĩ mới biết ràng buộc mình trong cuộc đày ải vô cùng của trí
tuệ, biết thiết tạo vân gỗ riêng, kích thích sự đọc, năng lực tưởng tượng của độc
giả. Đứng trong/ ngoài/ trên/ dưới hiện thực hay lùi sâu vào miền tâm linh, huyền
ảo,… hẳn trong lòng thi sĩ luôn tràn ngập niềm ham muốn tạo ra những không gian
đối thoại tương tác đa chiều. Vì thế, dù rằng thi ca không phải là phương thuốc
diệu kì để giải quyết hay chấm dứt những xô bồ, hỗn độn của thế giới, nhưng thi
ca sẽ mải miết cuốn thi sĩ vào hành trình kiếm tìm giá trị thi ca và giá trị cuộc
đời.
T.M
____________
1 Nguyễn Đức Tùng, Thơ đến từ đâu, Nxb Lao động, Hà Nội,
2009, tr.407.
2 Nguyễn Đức Tùng, Thơ đến từ đâu, sđd, tr.410.
3 Nguyễn Hưng Quốc, Văn học Việt Nam thời
toàn cầu hóa, Nxb Văn Mới, California, 2010, tr.242.
4 Hồ Thế Hà, Thơ Việt Nam hiện đại
- thi luận và chân dung, sđd, tr.133.
