☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Zalo

Hành trình đi tìm tâm điểm của sự trọn vẹn

 HOÀNG ĐĂNG KHOA      26/09/2026    39
Thoạt nhìn, đây chỉ là một liên tưởng tình yêu khá duyên dáng: chiếc com-pa muốn vẽ được đường tròn phải có một chân làm tâm điểm. Nhưng đọc rộng ra toàn bộ tập Giá ta là em, có thể nhận ra “em” là một phạm trù “mở”. “Em” không chỉ là người yêu, mà còn là mẹ, là cha, là hương đất tình người, là Tổ quốc, là tha nhân, là những gì đẹp đẽ nhất mà cái tôi trữ tình luôn hướng đến, bằng tất cả sự nâng niu ấp iu. Thiếu những điều ấy, con người khó có thể hoàn thiện chính mình. Thiếu “em”, “đường tròn” của “tôi” sẽ không bao giờ khép kín.

Hành trình đi tìm tâm điểm của sự trọn vẹn

(Đọc Giá ta là em, tập thơ của Nguyễn Tiến Nên, NXB Hội Nhà văn, 2026)

HOÀNG ĐĂNG KHOA

 

Thiếu em/ anh không định nghĩa được/ đường tròn (Com-pa). Đọc, rồi đọc lại lần nữa Giá ta là em của Nguyễn Tiến Nên, bất ngờ thú vị khi thấy dường như cả tập thơ đều châu tuần vào điểm hội tụ là câu thơ vừa trích dẫn.

Thoạt nhìn, đây chỉ là một liên tưởng tình yêu khá duyên dáng: chiếc com-pa muốn vẽ được đường tròn phải có một chân làm tâm điểm. Nhưng đọc rộng ra toàn bộ tập Giá ta là em, có thể nhận ra “em” là một phạm trù “mở”. “Em” không chỉ là người yêu, mà còn là mẹ, là cha, là hương đất tình người, là Tổ quốc, là tha nhân, là những gì đẹp đẽ nhất mà cái tôi trữ tình luôn hướng đến, bằng tất cả sự nâng niu ấp iu. Thiếu những điều ấy, con người khó có thể hoàn thiện chính mình. Thiếu “em”, “đường tròn” của “tôi” sẽ không bao giờ khép kín.

Giá ta là em phải chăng là hành trình đi tìm tâm điểm ấy, tức hành trình đi tìm điều làm nên sự trọn vẹn của một con người đã đi qua nhiều biến động, nhiều miền đất, nhiều cuộc gặp gỡ và nhiều suy tư trăn trở.

Ngay từ lời thưa đầu sách, Nguyễn Tiến Nên cho biết ông từng có ý định phân chia tập thơ thành nhiều phần. Sau cuối, ông quyết định để các bài thơ giao thoa đi lại tự do giữa thế thái nhân tình, giữa niềm vui và nỗi buồn của đời sống. Chính sự đan xen ấy đã tạo nên một cấu trúc cảm xúc cho tập thơ. Quê hương đi liền với gia đình, gia đình mở sang tình người, tình người lại dẫn đến những quan hoài về nhân thế... Các bài thơ không đứng riêng lẻ mà liên tục đối thoại, soi chiếu, như những cung đoạn khác nhau của cùng một hành trình tinh thần.

Điểm xuất phát của hành trình ấy là gia đình. Trong thơ Nguyễn Tiến Nên, hình tượng mẹ xuất hiện nhiều lần, không phải như một biểu tượng được lí tưởng hóa, mà như một nguồn năng lượng nâng đỡ đời sống. Ở Vầng trăng đầy đặn, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ gợi lên cả một đời hi sinh: Mẹ bán mọi thèm muốn/ khát khao/ mua vầng trăng đầy đặn. Mẹ không làm những điều phi thường, chỉ im lặng đánh đổi, quên phía mình để chắt chiu gìn giữ niềm vui và hạnh phúc cho con cháu. Chính sự bình dị ấy lại tạo nên vẻ đẹp lớn lao.

Đến Mẹ không đâu xa, nỗi nhớ được đẩy sâu hơn vào miền tâm thức: Nhìn đâu con cũng thấy hình bóng mẹ. Mẹ hiện diện không còn bằng thân xác, mà bằng những đồ vật gần gụi, bằng những thói quen đời thường, bằng một thứ ánh sáng âm thầm vẫn tiếp tục soi rọi cuộc đời người con. Ở đây, sự mất mát không dẫn đến tuyệt vọng, mà trở thành một hình thức “có mặt” khác của yêu thương.

Nếu mẹ là vầng ấm dịu dàng thì cha hiện lên như biểu tượng của sức mạnh và sự dẫn dắt. Trong Bóng núi, người cha được hình tượng hóa thành “ngọn núi”: Ngọn núi ấy người thầy tuổi thơ con. Núi là nơi che chở, là điểm tựa, là người hướng đạo. Khi “ngọn núi hóa mây”, người con mới cảm nhận hết khoảng trống mênh mông sâu thẳm. Nỗi đau riêng của một cá nhân có khả năng trở thành cảm thức chung của những ai từng mất đi suối nguồn cuộc sống.

Con người chỉ có thể đi xa khi mang theo những gì thân thuộc nhất. Từ gia đình, hành trình cảm xúc của Nguyễn Tiến Nên ngân xa đến những nơi đã qua, những người đã gặp. Đây là một trong những mảng thơ nổi bật của tập sách. Tác giả đi qua nhiều địa chỉ: Cẩm Xuyên, Ngũ Hành Sơn, Đắk Nông, Đồ Sơn, Nha Trang, Tam Giang, Chùa Hương... Đáng nói hơn là ông không nhìn những địa danh ấy bằng con mắt một du khách. Điều ông tìm kiếm không phải thắng cảnh, mà là phần hồn văn hóa, lịch sử, là “đất ấm tình người gieo hạt đơm hoa”.

Trong Mãi mãi hương bần, chỉ một nụ hoa bần thôi cũng đủ neo giữ kí ức về đất và người: Mãi mãi mang theo/ một nụ hoa bần/ chẳng làm anh nghèo/ kí ức về em. “Em” là người thương, cũng là quê hương, là thiên đường đã mất. Nụ hoa bần vừa là một hình ảnh thực, vừa là kí hiệu, là “vật chứng” của những gì còn lại sau bao biến dịch dâu bể.

Hay trong Giã từ một cổ tích, tác giả bày tỏ nỗi tiếc nuối trước sự mai một của những giá trị truyền thống: Cổ tích tự xóa dấu vết mình/ rời xứ ra đi. Câu thơ gợi nhiều suy nghĩ. Điều “ra đi” không đơn giản là một truyện kể dân gian, mà quan trọng là một phần kí ức cộng đồng, một phần hồn xưa văn hóa làng quê.

Ở những bài thơ như Mênh mang Cẩm Xuyên, Đà Nẵng vào thơ, Với Nha thành, Về Đắk Nông…, những tên đất hiện lên qua những lớp trầm tích thời gian. Đất đai trong thơ Nguyễn Tiến Nên luôn mang gương mặt của con người. Mỗi địa danh là một thanh âm riêng, một cách trò chuyện riêng với nhà thơ.

Từ những miền quê mà tác giả đã đi qua, cảm xúc thơ nhiều khi được nâng lên thành ý niệm về Tổ quốc như một không gian tinh thần rộng lớn. Trong bài Yêu chiếc áo trên mình xứ sở, đất nước được hình dung như một cơ thể sống. Đó là một xứ sở từng đi qua chiến tranh, thiên tai và những cuộc “trở dạ” nhọc nhằn của lịch sử, nhưng vẫn bền bỉ hồi sinh trong những sắc màu trẻ trung của sự sống. Hình ảnh “chiếc áo trên mình xứ sở” là một liên tưởng đẹp. Đất nước không phải khái niệm trừu tượng hay diễn ngôn chính trị, mà là hình hài thân gần, mang hơi ấm của một người mẹ. Yêu Tổ quốc, trong cảm thức ấy, trước hết là yêu những gì đang bao bọc và nuôi dưỡng đời sống mình.

Ở nhiều bài thơ khác như Trước ngọn chướng Hòn Khoai, tình yêu đất nước lại được soi chiếu từ những số phận cụ thể. Hình ảnh người mẹ già lần đầu đến đất Mũi, nâng niu chai nước biển như máu xương của con mình, đã làm cho không gian địa lí của Tổ quốc trở thành một không gian của tình thân.

Như vậy, đất nước hiện lên bằng chiều dài lãnh thổ, đồng thời bằng những mối dây gắn bó như tình ruột thịt, nghĩa đồng bào. Các địa danh trong tập thơ không dừng lại là những điểm đến, mà còn hợp thành một bản đồ cảm xúc về đất nước.

Từ gia đình, quê hương, những miền đất đã đi qua đến Tổ quốc, vòng tròn cảm xúc trong thơ Nguyễn Tiến Nên ngày càng mở rộng. Song le, lực hướng tâm của vòng tròn ấy vẫn là những giá trị nhân bản. Nhiều bài thơ trong tập trở đi trở lại với chữ “Nhân”. Ở Ngộ, sau những suy tư về cám dỗ, vô thường và được mất, tác giả đi đến một kết luận giản dị: Cuộc đời vốn vô thường vô nghiệp/ tất cả đều vắt nặn chữ “Nhân”. Đây là triết lí được trích xuất từ trải nghiệm sống, từ va đập với thực tế đời thường.

Tinh thần ấy hiện diện trong những bài thơ viết về thiên tai, mất mát và những phận người gặp biến cố. Ở Gửi người tận hiếu, thơ được nhìn như một hành động sẻ chia: Dòng thơ tôi chẳng phải gánh gồng/ góp chút lửa ấm lòng tận hiếu. Theo quan niệm của Nguyễn Tiến Nên, thơ không nên tham lam mang vác sứ mệnh cao đại, mà chỉ nên khiêm cung “góp chút lửa” sưởi ấm những thiện tâm.

Sang Điểm tựa, điều giúp con người vượt qua những cơn ác mộng của đời sống không phải phép màu mà là lòng trắc ẩn. Trong Khát vọng, ánh sáng vẫn được giữ lại giữa bóng tối. Trong Chuyện cùng chiếc lá, chiếc lá “còn thơm mùi sữa mẹ” trở thành biểu tượng của khả năng lắng nghe và sẻ chia.

Ngay cả khi đối diện những vấn đề thế sự, nhà thơ cũng không lựa chọn giọng điệu cực đoan. Ông thiên về cảnh báo, nhắc nhở và đánh thức lương tri hơn là phán xét. Đó là lí do nhiều bài trong tập luôn giữ được một sắc thái nhân hậu, dù đôi khi vẫn không giấu nổi những băn khoăn hoang mang trước thực trạng đời sống.

Đọc Giá ta là em, người đọc dễ nhận ra một mô-típ lặp đi lặp lại: sự kết nối. Kết nối giữa người với người. Kết nối giữa quá khứ và hiện tại. Kết nối giữa cá nhân và cộng đồng. Kết nối giữa giấc mơ và hiện thực. Kết nối giữa hao khuyết và viên thành. Có lẽ chính nhu cầu kết nối ấy đã khiến nhà thơ lựa chọn một nhan đề đầy chủ ý: “Giá ta là em”.

Thông thường, thơ tình nói đến việc tìm kiếm một người khác, hướng tới một người khác, hoặc mong người khác thuộc về mình. Nhưng ở đây, nhà thơ không nói “giá em là ta”, cũng không nói “giá ta có em”, mà nói “giá ta là em”. Cách nói này mở ra một tầng ý nghĩa đáng suy ngẫm. Không còn là khát vọng sở hữu hay chiếm hữu. Cũng không phải sở cầu được đáp lại. Đây là khát vọng hóa thân. Được bước sang phía người khác để hiểu họ. Được vượt khỏi những giới hạn của cái tôi để sống trong những giá trị phổ quát hơn. Được trở thành một phần của yêu thương thay vì chỉ là người tiếp nhận yêu thương.

Nhìn từ góc độ này, bài Com-pa có thể xem là chiếc chìa khóa mở vào toàn bộ tập thơ. “Em” là tâm điểm. “Em” là nơi neo giữ bản ngã. “Em” là điều kiện để cái tôi tìm thấy ý nghĩa tồn tại của mình. Bởi vậy, câu thơ Thiếu em/ anh không định nghĩa được/ đường tròn không còn là một câu thơ tình đơn thuần. Nó là một tuyên ngôn nhân sinh, là một cách nói khác về nhu cầu được tương giao, hoà ái, được sống vì người khác của con người.

Giá ta là em không phải là một tập thơ đồng đều. Chính tác giả cũng thẳng thắn thừa nhận điều đó trong lời đầu sách. Vẫn có những bài còn thiên về kể, về ghi chép cảm xúc trực tiếp; vẫn còn dấu vết của văn phong báo chí trong một số đoạn thơ. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là nỗ lực làm mới ngôn ngữ và liên tưởng của tác giả. Nguyễn Tiến Nên có khả năng tạo ra những câu thơ không bão hòa. Chẳng hạn: Mẹ bán mọi thèm muốn/ khát khao/ mua vầng trăng đầy đặn. Hoặc: Cổ tích tự xóa dấu vết mình. Hay: Thiếu em/ anh không định nghĩa được/ đường tròn. Phía sau những câu thơ kiểu này là một phát hiện cảm xúc hoặc một phát hiện nhận thức.

Điều đọng lại sau khi đi hết tập thơ là cảm giác ấm áp về một thế giới mà ở đó con người vẫn còn tin vào nhau, còn muốn trở thành điểm tựa cho nhau, còn cố gắng bảo giữ những giá trị tốt đẹp giữa ba đào thế cuộc.

Suy cho cùng, sự trọn vẹn của đời sống không đến từ việc ta sở hữu được bao nhiêu thứ, mà đến từ việc ta tìm thấy ai, tìm thấy điều gì khả dĩ làm tâm điểm cho vòng tròn tồn tại của mình.

Càng đi xa khỏi cái tôi, chủ thể trữ tình càng tiến gần hơn tới tâm điểm của sự trọn vẹn. Hành trình thơ của Nguyễn Tiến Nên, tựu trung, là hành trình đi tìm tâm điểm ấy.

H.Đ.K