(Quảng Bình quê ta ơi - Hoàng Vân)
Xưa, không gian làng quê ven sông Kiến Giang vốn hoang sơ,
tù đọng bởi gần cả thập niên “Bình Trị Thiên khói lửa”, bỗng vang lên lảnh lót
giai điệu cao và trong như tiếng kèn đồng: “Giải phóng Điện Biên, bộ đội
ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui...”. Và nữa,
giọng trầm hùng mạnh mẽ: “Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa, suối sâu
đèo cao bao khó khăn vượt qua, bộ đội ta vâng lệnh cha già...”. Xóm làng
như bừng thức:
- Ai về bên kia sông?
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp!
Con sông Kiến Giang nhỏ và hiền, qua làng tôi chảy hướng
nam - bắc. Ông Giáp về bên kia sông. Từ Tây Bắc trở về còn có nhiều người mặc
áo trấn thủ chần hình quả trám. Đêm, sân đình vang lên tiếng những lóng tre va
vào nhau theo nhịp, tiếng đàn Mandolin và cả “đàn mồm”: “Sòn sòn sòn đô
sòn/ Sòn sòn sòn đô rê/ Rê rê mi rê đồ rê/ Rê rê mi rề đồ là...”. Rồi đâu
đó từ hậu trường, hiện ra những anh chị ban ngày còn lấm lem bùn đất, bây giờ mặt
hoa da phấn bước vào giữa ánh trăng rười rượi, nhún nhảy qua các đoạn tre gõ đều
đặn vào nhau: Nhảy sạp! Sau nữa là “Chiếc khăn Piêu thêu chỉ hồng theo
gió cuốn bay về đây…”, là “Noọng ơi! Non ngàn nở hoa…”,
là “Đêm qua bên lửa hồng anh thức thâu đêm làm đàn môi tặng người
thương…”, với cả “Em là dòng sông Mã, anh là núi Mường Hung, cho
thuyền em ngược dòng...”. Bầy trẻ con bốn năm tuổi sướng mê li, ngồi dưới
ánh trăng xem nhảy sạp, nghe hát toàn những giai điệu trữ tình lạ lẫm xa xôi,
ngủ quên luôn ở sân đình.
Nhập vào hồn tôi từ thuở ấu thơ cởi truồng, thò lò mũi xanh
là bữa tiệc văn hóa Tây Bắc ngọt ngào no nê ấy.
Tiếc thay, chỉ vài năm sau, bom đạn lại đầy trời, tiếng phản
lực gầm thét ngày đêm. Bom từ trời rơi xuống, pháo từ biển bắn vào... Quảng
Bình tuyến lửa. Tạm gác lại “Noọng ơi, non ngàn nở hoa…”, xin
gặp lại một ngày không hẹn trước. Các anh chị vừa mặt hoa da phấn đêm qua, sáng
nay bỏ luôn cả gồng gánh thóc giống mạ non, tập trung ở sân đình, lớp cầm súng
ra trận, lớp vào Thanh niên xung phong lên Trường Sơn mở đường. Và chúng tôi,
trong hàng vạn trẻ con theo K8, K10 đi ra các tỉnh phía Bắc tránh cuộc chiến
tranh dần đẩy đến độ hủy diệt. Nhưng trong trái tim đã in dấu hình ảnh, giai điệu
Tình ca Tây Bắc như chỉ có trong mơ thì mãi không bao giờ phôi pha.
Thời gian cứ bình thản trôi như hòn cuội lăn dưới bàn chân,
như gió mùa thu thổi qua đầu…
* * *
Sáu mươi lăm năm trôi qua, hôm nay đây, chân đã mỏi, gối đã
chồn, tóc bạc như mây, chúng tôi tìm đường... lên... Tây... Bắc!
Không có “suối sâu đèo cao, bao khó khăn vượt qua”, đường
cao tốc êm lướt dưới bánh xe. Có suối để ngắm thác chảy, có đèo để cảm sương
giăng, có đỉnh núi để lên mái nhà Đông Dương, có cuộc chiêu đãi đoàn tham quan
chỉ trong một cái nhà hàng không nổi danh sao quá đỗi cầu kỳ. Những cô gái Thái
đẹp trong mơ, như một đàn bướm bước ra sàn nhảy. Ký ức liền được kích hoạt cùng
với Qua miền Tây Bắc, với Sòn sòn sòn đô sòn, với những
đoạn tre gõ vào nhau và thanh niên nam nữ sống sót qua khói lửa Bình Trị Thiên.
Và rượu, từ tay các cô gái Thái theo ống nứa chảy tràn, du
khách cứ an tọa mà tận hưởng.
Và, chuếnh choáng say! Vang lên một giọng nam cao tha thiết: “Noọng
ơi, non ngàn nở hoa…”.
Trời đất, thằng Lanh! Thằng Lanh đang hát tiếng Thái buồn
trong một chiều ở xóm Roọc ngay bờ sông Hiền Lương. Chiến dịch dài đến ba trăm
ngày kéo từ 30/3/1972 đến 28/1/1973, đã đi được hơn nửa chặng đường. Đối phương
đã lấy lại được Thành Cổ. Tiểu đoàn xe tăng thiệt hại không nhỏ rút ra bắc Vĩ
tuyến 17 củng cố, nằm chờ trận mới. Pháo thủ Nên hy sinh. Trung đội chỉ còn mỗi
Lanh là người Lào Cai, không có ai để líu lo đôi câu tiếng Thái đỡ buồn. Mỗi
chiều, Lanh ra ngồi bên dòng sông, cất lên giọng buồn: Noọng ơi!...
Tiếng nhạc bỗng chuyển giai điệu và chủ nhà đứng dậy. Khách
đang ngơ ngác thì bị kéo ào đi: Xòe! “Inh lả ơi, xao noọng ời! Khắp núi
rừng…”. Không còn gì ngăn cách nữa. Nam thanh nữ tú cầm tay nhau mắt
đong đưa. Hoa khôi “nửa chừng xuân” cầm tay ông lão thất thập vào vòng xòe. Cầm
lòng được chăng khi điệu nhạc xòe đã cất lên. Ôi Tây Bắc, ôi Lào Cai! Sáu mươi
lăm năm mới được mục sở thị, mới được râm ran trên da thịt cái cảm giác ngọt
ngào khi cùng nhịp bước xoay vòng xòe hoa… Nếu còn sống, Lanh cũng vào độ “Bạch
đầu quân sĩ tại” như tôi. Lanh còn sống không sau chiến dịch Quảng Trị, chiến dịch
Hồ Chí Minh, chiến dịch biên giới Tây Nam, những trận đánh bảo vệ biên giới
phía Bắc năm bảy chín? Anh đang ở đâu giữa Lào Cai chập chờn mù sương như mơ
như thực? Nhớ anh, tôi liều mình hát Câu hò bên bờ Hiền Lương làm
quà tặng người Lào Cai hầu mong kéo được tâm tưởng người xứ mù sương về với miền
Trung gió Lào cát trắng. Bất ngờ một thành viên trong đoàn, suốt hành trình cứ
lặng lẽ đi lặng lẽ thu mình trong các bữa tiệc, bỗng cất giọng mà không hề có
phi lộ: “Ơ hơ khoan, xin mời các bạn… xố con!”. Ôi, hò khoan Lệ Thủy
đấy. Nào thì ta cùng: Ơi là… hố! Lại giọng hò cái: Em
đố anh: Dầu chi là dầu không thắp? Bắp chi là bắp không rang? Than chi là than
không quạt? Bạc chi là bạc không tiêu? Trai nam nhi anh đà đối đặng thì dải lụa
điều em trao!... Cứ thế, giọng hò cái cất lên, giọng
xố con của cả đoàn khách hưởng ứng. Những chủ nhân Lào Cai
cũng im lặng nghe, lạ lẫm và thưởng thức. Và thời gian không dừng lại, thời điểm
xuất phát về xuôi đã qua lâu rồi.
Chia tay ư? Không, chưa thể! Tôi còn bao điều cần thưa với
Lào Cai. Thề rằng không hề có dự liệu mà hoàn toàn tự phát, bật ra như lò xo dồn
nén đã hơn sáu mươi năm. Sau này tôi mới hiểu vì sao không qua một lớp học nào
mà con dân vùng lưu vực Kiến Giang quê tôi đều biết hò khoan, biết hò cái, xố
con. Không gian văn hóa dân gian đi vào từng giấc ngủ, từng đêm trăng, từng tiếng
gà gáy sáng…
- Hui bơ hò hụi!
Là bơ hò hụi!
Câu đầu của giọng cái thay đổi tiết tấu và
câu sau là câu xố (hưởng ứng) của các bạn hò.
- Hết hụi ta hò khoan/ Là hố là khoan/ Ai đưa ta
đến Lào Cai/ Là hố là khoan/ Ra về nỏ đặng/ Là bơ hò khoan! Nhớ
ai nặng lòng?/ Là hố là khoan a li khoan ta hò khoan.
- Về Trung, em nỏ cho về/ Là hố là khoan/ Em nắm
vạt áo/ Là bơ hò khoan/ Em đề câu thơ/ Là hố là khoan/
Câu thương câu nhớ/ Là bơ hò khoan/ Câu đợi câu chờ/ Là
hố là khoan/ Hẹn ngày tái ngộ/ Là bơ hò khoan/ Câu
thơ thêm nồng/ Là hố là khoan a li khoan ta hò khoan là hố là khoan…
Chia tay. Hai đoàn Quảng Bình và Lào Cai nhập vào nhau, rộn
ràng xao xuyến.
- Kho…a…n! Cho tôi hỏi…
Suốt lúc nãy bận cầm cái, tôi nhác thấy một người
đàn ông đứng tuổi xố theo rất thành thục, vỗ tay rất đúng nhịp.
Chen cật lực rồi cũng tiếp cận được:
- Anh người Quảng Bình hay Lào Cai?
- Lào Cai, có chuyện gì không?
- Anh rất biết hò khoan…?
- À, hồi tôi đóng quân ở Thái Thủy mãi… hò chung với mấy o
dân quân…
Tiếng còi xe hối hả. Trời chiều đường xa! Các bạn Lào Cai
đang đứng bên thành xe tiễn đoàn chúng tôi về xuôi. Những tiếng kêu giật giọng.
Tôi vội cầm tay anh nắm chặt…
Lấp loáng cái hình xăm nơi cánh tay, Tăng T54! Xe chạy xa rồi
tôi mới hốt hoảng: Sách lịch sử Binh chủng Tăng - Thiết giáp dành hẳn một
chương nói về hậu cứ Lữ đoàn Tăng 203 ở Thái Thủy, Lệ Thủy. Trời đất! Người đàn
ông ấy là cựu chiến binh cùng binh chủng, cái thời mỗi thằng đều xăm vào cánh
tay hình “con bọ cạp”…
* * *
Ôi, Lào Cai, Lào Cai! Sau năm tư có những
người lính từ chiến trường Tây Bắc mang theo về miền Trung điệu nhảy sạp, những
giai điệu mang âm hưởng núi rừng Tây Bắc làm xao xuyến trái tim bao lứa trai đồng
chiêm. Rồi sau bảy lăm, ai ngờ cũng có những người lính sống sót từ
chiến trường miền Nam trở lại núi rừng Tây Bắc, mang lên Lào Cai điệu hò khoan
Lệ Thủy dìu dặt, nay đã thành di sản quốc gia, với nguyên vẹn cả khúc biến tấu
đặc biệt kia.
Lào Cai ơi! Xin một lần gặp lại!
N.T.T
