Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Chuyện tình bên dòng sông Long Đại

NGUYỄN ĐẠI DUẪN    22/07/2026    324
Đêm đã khuya. Ánh trăng mờ ảo chênh chếch bên hè. Tiếng côn trùng đã đắm chìm vào bóng đêm. Không gian thanh vắng lạ thường. Tôi thao thức không tài nào chợp mắt. Tôi nhớ Thắm. Đã lâu nay, từ khi tôi về trại điều dưỡng thương binh, tôi không còn viết thư cho Thắm và cũng không nhận được thư từ hay tin tức gì của cô ấy. Ngay cả mẹ, tôi cũng giấu chuyện bị thương. Tôi muốn mọi người bất ngờ khi tôi trở về. Nghe chuyện về Thắm, lòng tôi nhói đau.

Từ trại thương binh, tôi trở về quê vào một buổi chiều khi những cơn gió Lào đã dịu. Chuyến tàu chợ đưa tôi về ga Long Đại lúc mặt trời đang dần trôi về phía núi Thần Đinh. Tôi băng qua làng Đồng Tư, men theo bờ sông để kịp chuyến đò. Dòng sông Long Đại lững lờ trôi. Những rặng bần già xòe tán rậm rạp hai bên bờ soi bóng, ánh lên sắc vàng trầm mặc của hoàng hôn. Bên kia sông, chiếc đò ngang nằm lặng im trên bến. Lòng xốn xang muốn về nhà thật nhanh để gặp lại người thân sau bao năm xa quê. Lặng nhìn nơi bến sông xưa, dòng nước vẫn êm đềm trôi như thuở nào, vậy mà đời người thì đã qua bao thăng trầm. Gió từ mặt sông thổi lên mang theo mùi bùn non, mùi cỏ lác quen thuộc, chạm khẽ vào miền ký ức xa xăm, làm sống dậy những ngày thơ bé đã lùi vào quá khứ. Lòng tôi bỗng trào dâng niềm vui mừng được trở về, vừa man mác buồn vì thời gian không thể quay lại. Giữa bến sông thân quen, phút chờ đợi bỗng dài hơn, lặng lẽ thấm vào tim một nỗi niềm sâu lắng, dịu dàng mà da diết.

Dòng sông Long Đại chảy qua làng Long Đại tự bao giờ không ai nhớ rõ. Người già trong làng kể rằng từ khi họ chào đời, đã thấy con sông nằm đó, uốn mình như dải lụa xanh, ôm trọn làng quê nghèo vào lòng. Những chiếc thuyền nhỏ lững lờ, mái chèo khua nhẹ tạo nên vòng sóng tròn lan xa. Con sông không chỉ mang phù sa bồi đắp ruộng đồng mà còn chở nặng bao ký ức, ân tình của làng quê, lặng lẽ bền bỉ như chính nhịp sống mộc mạc của con người nơi đây. Mùa nắng, nước sông trong veo, soi rõ mây trời và những hàng bần rậm rì hai bên bờ. Mùa mưa, nước đục ngầu, cuồn cuộn phù sa trên thượng nguồn đổ về mang theo lau, sậy và củi khô xuôi theo dòng nước. Dưới rặng bần ven sông là những chiếc ca nô chở vũ khí, lương thực của các đơn vị bộ đội thường ẩn nấp tránh máy bay Mỹ, chờ đêm về xuất bến.

Làng Long Đại những năm bom đạn giặc Mỹ là nơi “tọa độ lửa” của máy bay và pháo hạm. Ban ngày máy bay quần thảo, ban đêm chúng thả pháo sáng trắng cả dòng sông. Chúng phát hiện được mục tiêu là ném bom tới tấp. Khi pháo cao xạ của ta bắn lên, chúng đạp cho hết số bom rồi tháo chạy ra biển. Làng xóm chìm ngập trong khói lửa và tiếng kêu la thảm thiết. Người làng quen với cảnh bom đạn đến mức nghe tiếng kẻng báo động là biết loại máy bay nào sắp oanh tạc, xa hay gần để biết chui hầm.

Tôi lớn lên trong hoàn cảnh mồ côi cha từ nhỏ. Mẹ một mình tần tảo nuôi tôi và đứa em nhờ vào công điểm hợp tác và đám bãi cồn trồng dưa. Mẹ gầy gò, một nắng hai sương nhưng nhanh nhẹn. Mỗi lần mẹ nhìn tôi cầm củ khoai nuốt nghẹn, ngậm ngùi nói:

- Con ráng chịu cực, chịu khổ, lương thực dành nuôi bộ đội đánh giặc. Khi nào đất nước thống nhất thì mới hết cực được!

Nhà Thắm ở cạnh nhà tôi, cách một hàng dâm bụt. Hai đứa cùng tuổi, học cùng một lớp. Nhà đã nghèo mà bố Thắm lại nghiện rượu. Khi say lại hay gắt gỏng, chửi mắng. Mỗi lần như thế hai mẹ con Thắm chỉ biết im lặng hoặc đi đâu đó đợi ông hết cơn men trong người thì mới về. Mẹ Thắm hay đau yếu, sau mỗi tối cơm xong thường ngồi thở dài bên bếp lửa. Từ nhỏ Thắm đã quen với việc gánh nước, cắt cỏ, mò cua bắt ốc coi như bổn phận của mình với gia đình.

Những buổi chiều yên tiếng bom, lũ trẻ con chúng tôi thường rủ nhau ra sông tắm. Tôi bao giờ cũng xuống trước. Đứng dưới nước nhìn mấy đứa con trai moi đất bùn ném mấy đứa con gái. Tôi thường lớn tiếng để can ngăn chúng: “Tụi bay chơi chi bẩn rứa. Toàn ăn hiếp con gái thôi”.  Rồi nhìn Thắm nói với lên: “Xuống đi, đừng sợ”.

Mấy đứa bạn cười nói chen vào: “Hai đứa bay nậy lên mần vợ chồng được đó”. Thắm xấu hổ, mặt đỏ bừng trợn mắt, đưa nắm tay dọa đấm.

Tháng ngày cứ trôi. Tôi và Thắm lớn lên bên dòng sông ấy. Tuổi thơ của chúng tôi là những ngày học dưới hầm, là tiếng máy bay gầm rú trên đầu, là những ngày cùng học nhóm, cùng sinh hoạt thiếu niên. Tôi thường lén chia cho Thắm nắm khoai deo, củ sắn luộc mẹ để dành. Thắm thì vá giúp tôi chiếc áo rách, giấu mấy quả ổi chín sau vườn rồi gọi với sang, đưa cho. Rồi chúng tôi trở thành thanh niên lúc nào không biết. Thắm hiền lành, ánh mắt bắt đầu lúng liếng. Thân hình đã nổi những đường cong bên tấm áo mỏng màu gụ. Mỗi lần đi sinh hoạt thanh niên hay họp hành, bên tôi lúc nào Thắm cũng dè chừng, thẹn thùng. Không còn nắm tay nhau chạy nhảy như thời con nít nữa. Chẳng ai bảo ai, chúng tôi lớn lên trong sự gắn bó tự nhiên, để rồi đến một ngày, tình bạn hóa thành yêu thương. Đó là những buổi tối máy bay ít oanh tạc, hai chúng tôi ra gốc dừa bên bờ sông, ngồi nghe tiếng gió lao xao trên rặng bần. Những câu chuyện không đầu không cuối, như dòng nước lững lờ đang trôi. Tôi dần mạnh dạn hơn bên Thắm, để rồi một lần nắm bàn tay nhỏ nhắn của em mà thốt lên: “Hết chiến tranh chúng mình sẽ cưới nhau, dựng một mái nhà nhỏ nhìn ra sông. Rồi sinh một đàn con cho thỏa sức nuôi nhé”. Thắm đấm nhẹ lưng tôi: “Con nít! Ai ưng mà vợ với chồng”. Nói xong Thắm nhìn tôi lâu hơn, đằm thắm hơn với một cái gật đầu.

* * *

- Anh ơi! Lên đò sang bến thôi.

Một giọng nói ồm ồm của người con trai vỡ giọng làm tôi giật mình trở về với thực tại.

Khoác ba lô trên vai, tôi nhẹ nhàng xuống đò. Cậu thanh niên nhìn tôi chằm chằm như tìm kiếm một điều gì đó. Bất ngờ nó buông mái chèo chạy lại ôm chầm lấy tôi, chiếc đò tròng trành làm tôi mất đà suýt ngã:

- Anh Huy! Có phải anh Huy đây không? Anh còn nhớ em nữa không? Em là con của mẹ Lợi ở sau nhà anh. Ngày xưa anh thường đẽo cù cho em đó.

Nói rồi nó ôm lấy tôi chặt hơn như sợ ai bắt đi.

- Ù, à! Là thằng Thắng! Em chóng lớn quá, anh nhận không ra nữa. Hai chúng tôi buông nhau ra. Thắng cầm lấy mái chèo khua nhẹ. Vừa chèo nó vừa huyên thuyên chuyện làng, chuyện nhà cho tôi nghe.

Tôi chạy nhanh về nhà. Sau chiến tranh, quê tôi loang lổ những hố bom, trông như những vết thương chưa kịp liền da. Trên cánh đồng, những hố bom cũ chưa kịp lấp, hoa lục bình đang nở màu tím biếc rung nhẹ trong gió. Những hàng tre sạm màu khói lửa, đang mọc lên những búp măng sau trận mưa. Những mái nhà đang sửa dở dang, bề bộn tranh tre. Tất cả là dấu ấn của một thời đạn bom khốc liệt.

Nghe tiếng gọi, mẹ tôi chạy nhanh ra cổng. Mẹ đứng nhìn tôi trân trân một hồi rồi nhào tới ôm lấy tôi nghẹn ngào trong nước mắt:

- Thằng Huy! Huy con đã về rồi đó à? Cha mi chơ! Răng về mà không nhắn cho mạ lấy một lời!

Tôi nhìn tấm thân gầy còm của mẹ, mắt rưng rưng:

- Con về đây với mạ là được rồi! Viết thư, đánh điện mà đến nhà thì con cũng đã về trước rồi.

Mẹ tôi đi đâu đó, tay xách về con gà và mấy quả chuối tiêu. Loáng một cái, mẹ đã dọn sẵn mâm cơm. Hai mẹ con ngồi trên chiếc chõng tre ngoài sân vừa ăn vừa chuyện trò. Mẹ cho biết, em gái tôi nay vừa đi học lớp y tá trên tỉnh. Gắp cho tôi miếng thịt gà, mẹ nhìn tôi rồi chững lại vài giây như suy tính. Và không chờ tôi hỏi, mẹ kể chuyện về Thắm:

- Biết con về chắc Thắm mừng lắm! Nhưng hắn đi lấy chồng làng bên kia sông đã mấy năm nay. Chừ hắn ở mô, làm chi mạ không biết được. Mạ hắn mất sau khi con đi bộ đội một thời gian. Năm sau bọ hắn do nghiện rượu, nợ nần nên gả hắn cho tên bợm rượu xóm bên sông. Rồi ông ấy cũng ra đi sau một lần tai nạn.

- Vậy răng mạ không dò hỏi tin tức chi của Thắm?

- Mạ có đi ra khỏi bụi tre, ngõ xóm mô mà biết! Viết thư cho con cũng nhờ thằng Thắng viết hộ. Công việc một mình mạ mần bù trôốc, bù tai. Thôi chuyện mô có đó. Ăn đi mà nghỉ ngơi. Bà con lối xóm còn sang chơi hỏi thăm.

Mẹ đặt ấm chè xanh, rổ khoai lang và mấy gói kẹo lạc tôi mua ở ga Vinh lên chõng tre thì bà con lối xóm đến. Chuyện trò râm ran. Tôi không dám thể hiện niềm vui quá nhiều sợ làm buồn mấy cô, bác có con cùng đi bộ đội với tôi. Có đứa chưa về hoặc không trở về nữa. Có đứa đã báo tử, có đứa chờ tin... Thật là nỗi đau mất mát của chiến tranh không ai lường được. Thằng Thắng lăng xăng mời nước, mời kẹo bà con, nhìn tôi nó nói nhỏ:

- Chỉ tội cho chị Thắm thôi! Phen này về anh phải đi tìm chị Thắm xem chị ấy giờ ra sao! Em nghe người ta nói chị Thắm bị chồng đánh đuổi ra khỏi nhà đi lang thang đâu rồi!

Đêm đã khuya. Ánh trăng mờ ảo chênh chếch bên hè. Tiếng côn trùng đã đắm chìm vào bóng đêm. Không gian thanh vắng lạ thường. Tôi thao thức không tài nào chợp mắt. Tôi nhớ Thắm. Đã lâu nay, từ khi tôi về trại điều dưỡng thương binh, tôi không còn viết thư cho Thắm và cũng không nhận được thư từ hay tin tức gì của cô ấy. Ngay cả mẹ, tôi cũng giấu chuyện bị thương. Tôi muốn mọi người bất ngờ khi tôi trở về. Nghe chuyện về Thắm, lòng tôi nhói đau. Nỗi nhớ thương lâu ngày dồn nén cứ dâng trào. Biết làm gì đây? Bao nhiêu câu hỏi và câu trả lời cứ chập chờn với những kỷ niệm cứ hiện về. Tôi mong trời mau sáng.

Nghỉ ngơi vài ngày tôi mượn chiếc xe đạp về thị xã Đồng Hới để nộp giấy tờ ra quân, làm các thủ tục cần thiết. Sau những năm tháng chiến tranh ác liệt, thị xã Đồng Hới gần như bị bom đạn cày xới đến tận cùng. Những dãy phố xưa đổ nát, mái ngói vỡ tan, tường nhà loang lổ vết cháy, con đường ven sông chỉ còn lại hố bom chằng chịt. Bờ biển lộng gió. Những hàng dừa ven sông tiêu điều, lặng lẽ như còn in dấu những ngày bom đạn. Người dân trở về giữa hoang tàn, nhặt nhạnh từng viên gạch, dựng lại mái nhà bằng đôi tay chai sần. Trong tro tàn của đổ nát, sự sống đang dần hồi sinh trở lại. Tiếng búa, tiếng cưa vang lên giữa buổi sớm trong những căn nhà dựng lại. Một mảnh vườn nhỏ được cuốc lên, một mái trường dựng tạm đón lũ trẻ ê a bài học mới. Đồng Hới dần xanh lại màu cây lá, rộn ràng tiếng chợ.

Sau khi làm xong các thủ tục, tôi đạp xe về trường trung cấp y của tỉnh để gặp đứa em gái. Trường cạnh con đường đất sỏi, xung quanh cây cối rậm rạp, nơi xóm nhà thưa thớt ít người lại qua. Trời nhập nhoạng tranh tối tranh sáng, tình cờ bắt gặp một cảnh tượng khiến tôi dừng xe. Một người phụ nữ bị hai tên giang hồ đánh đập dã man. Đứa xách tai, đứa túm tóc với những câu chửi thô tục. Tôi dựng xe, miệng quát to:

- Mấy người dừng tay lại. Không được đánh người.

- Mi là thằng mô? Cút!

Nói xong một thằng chạy sấn lại gần tôi. Hắn bỗng chững người lại khi thấy tôi mặc bộ quân phục. Bằng thế võ của người lính trinh sát, tôi nhanh nhẹn nắm lấy tay hắn giật mạnh, cùng lúc đá một cú vào chân hắn. Hắn ngã sõng soài. Tên còn lại thấy vậy nhặt que gỗ bên vệ đường chạy đến. Hắn chưa kịp đưa que gỗ lên, tôi đã cầm chiếc xe đạp quay một vòng. Tên này lùi lại vấp cái hố ngã nhào.  

Tôi chạy lại đỡ người phụ nữ dậy. Khi người phụ nữ ngẩng lên, tôi nhìn thấy khuôn mặt cô ta hốc hác, đầu tóc rối bù, áo quần xộc xệch, ánh mắt đầy sợ hãi. Nhưng trên khuôn mặt ấy tôi ngờ ngợ nhận ra nét thân quen. Tôi chết lặng vài giây, miệng hét lên:

- Thắm! Có phải Thắm không? Anh là Huy đây! Em có làm sao không?

Mấy phút ngỡ ngàng trôi qua, Thắm lao đến ôm chầm lấy tôi như đứa trẻ lạc đường. Gặp lại nhau sau bao năm, không còn nước mắt, chỉ còn nỗi đau nghẹn ngào.  

* * *

Tôi sang sửa lại mái nhà dột nát cho Thắm, dọn lại vườn tược và hết lời động viên em. Thắm mặc cảm, thấy mình như có lỗi, cô không dám lại gần và nói chuyện với tôi. 

Một tối đẹp trời tôi sang nhà Thắm. Thắm ngồi lặng lẽ trước hiên nhà, mắt dõi nhìn ra hướng bờ sông, lặng buồn. 

Đêm hè lặng như tờ. Nước sông chảy chậm. Ánh trăng rơi xuống sông như chiếc dĩa khổng lồ, loang loáng trên mặt nước. Gió từ bãi bần thổi lên mang theo mùi hoa mới nở, quen thuộc như hơi thở của quê nhà. Ngồi bên bờ sông, cạnh người con gái năm xưa từng hẹn ước, nay đã là vợ người ta, khoảng cách giữa hai chúng tôi chỉ cách một bờ vai mà vời vợi như hai bờ cách trở. Con nước vẫn xuôi dòng, còn lòng người thì chòng chành giữa những điều đã đi qua.

Ký ức ngày tiễn quân bỗng ùa về, tôi đứng giữa tiếng trống, tiếng gọi nhau rộn ràng mà nghe tim mình đập dồn từng nhịp. Mẹ lặng lẽ sửa lại cổ áo cho tôi, bàn tay run run, quay mặt cố giấu giọt nước mắt. Còn Thắm, tay cầm bó hoa bưởi đứng nép bên tôi, ánh mắt vừa tự hào vừa đượm buồn. Chúng tôi không dám nói nhiều, chỉ trao nhau một cái nhìn thật lâu như gửi gắm cả quãng đời thanh xuân cho nhau.

Anh! Anh hãy tha lỗi cho em! Hãy quên đi lời hứa năm xưa, coi nhau như người bạn tri kỷ, như cái thuở chúng mình là con nít anh nhé.

Ngày đó - Thắm chậm rãi nói tiếp - Sau khi mẹ mất, bố em ngày càng chìm sâu vào rượu chè. Nợ nần chồng chất. Người ta đến đòi nợ ngày một nhiều. Và rồi, trong một cơn say, ông gật đầu gả em cho một tay chuyên mổ lợn thuê và nấu rượu lậu giàu có trong vùng để trừ nợ. Em quỳ xuống khóc: “Bố ơi! Bố làm thế là giết con rồi đó! Con đã hứa với anh Huy hết chiến tranh, anh ấy về chúng con sẽ lấy nhau”. Ông quát: “Im đi! Mi biết chi mà nói! Yêu đương là quyền bây, gả cho ai là quyền tau. Biết thằng Huy sống chết răng mà chờ”.

Người chồng coi em như món đồ mua được bằng tiền. Hắn gia trưởng, thô bạo, thường xuyên đánh đập em mỗi khi say rượu hay không làm kịp đồ nhậu cho hắn. Cuộc sống của em chìm trong những chuỗi ngày tối tăm, nhẫn nhục. Rồi trong một lần say rượu bố em bị tai nạn cũng đã về với mạ. Em buồn khóc hết nước mắt, không biết chia sẻ cùng ai. Em viết thư cho anh nhiều lần, nhưng rồi lại xé. Em sợ làm anh đau khổ vì em rồi nhụt chí chiến đấu khi đang ở ngoài chiến trường. Những ngày đó, em sống trong nỗi nhớ. Mỗi chiều ra bến sông, lại ngồi nhìn về phía bên kia, chờ đợi... Những lá thư anh gửi về từng chữ đối với em đều quý giá ngần nào. Người làng ít ai biết chuyện về cuộc sống của em. Cho đến một ngày, sau một trận đòn dữ dội, khi chồng em thấy em trốn ra vườn đọc trộm thư anh, em bị đuổi ra khỏi nhà. Không một đồng dắt lưng, không nơi nương tựa, em không dám quay về làng vì sợ người ta cười chê, vì nhà còn ai nữa mà về! Em lang thang xuống thị xã Đồng Hới, rồi ra thị trấn Ba Đồn. Ở đó, giữa những ánh đèn mờ mịt, em rơi vào tay bọn ma cô, bị ép buộc làm gái mại dâm. Em sống trong nỗi tủi nhục, cam chịu, chỉ mong một ngày nào đó có thể thoát ra. Một hôm nhân lúc bọn chúng nhậu say, em trốn về Cộn. Nhưng bị bọn chúng phát hiện cho người đuổi theo. Và sự việc như hôm anh đã gặp...

Tôi ôm Thắm, lòng nghẹn lại. Nước mắt Thắm ướt đẫm trên bờ vai tôi. Tôi chậm rãi nói, tiếng nhẹ chỉ đủ cho em nghe:

- Mình làm lại từ đầu, Thắm à! Anh cũng thương tích đầy mình, không cần gì khác ngoài tình yêu em!

Thắm lắc đầu. Nước mắt rơi lặng lẽ. Tiếng nói thốt ra nghèn nghẹn nơi cổ họng:

- Em không xứng đáng với anh nữa rồi, Huy ơi! Quá khứ của em… đen tối lắm!

Lặng đi một lúc, tôi nắm chặt tay Thắm nói như cương quyết:

- Không sao đâu em. Người còn sống là còn làm lại được!

Thắm nhìn vào dòng sông đang lao xao tiếng sóng, nói khẽ:

- Để em đi học cái nghề chi đó đàng hoàng, làm lại cuộc đời. Nếu anh còn thương yêu… thì đợi ngày em trở về. Và về để còn được nghe anh kể chuyện chiến trường nữa chứ!

Tôi nắm siết chặt tay Thắm hơn, không do dự:

- Anh sẽ đợi em. Bao lâu anh cũng đợi. Cố lên em nhé!

Tiếng gà eo óc gáy sang canh. Chúng tôi chia tay nhau trong nỗi niềm thương yêu và niềm tin một ngày sẽ khác. Con sông vẫn chảy, lặng lẽ mang theo một chuyện tình dang dở, nhưng chưa bao giờ tắt hy vọng, như đang hòa vào nhịp sống chảy mãi không ngừng của dòng nước quê nhà.

 

 Quán Hàu, tháng 3 năm 2026

N.Đ.D