Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Thơ Võ Văn Luyến từ “Mật ngôn” đến “Linh thoại”

 HỒ THẾ HÀ    18/07/2026    341
Cái nhìn cuộc sống bằng thực chứng và triết nghiệm như thế đã làm cho thơ Võ Văn Luyến đậm chất nhân văn, luôn suy nghĩ và truy tìm ý nghĩa của đời sống và của mỗi nhân vị. Anh luôn băn khoăn về nỗi mình và sự đời, về hiện thực và ước mơ, giữa cái đã có và cái cần có/ sẽ có - tức là băn khoăn và sự lựa chọn hành vi đạo đức theo phán đoán đúng để làm người cao đẹp, phù hợp với nhân tính và chân - thiện - mỹ.


Võ Văn Luyến là nhà thơ có hành trình sáng tác dài 30 năm gắn bó với con chữ và tình yêu thi ca. Đến nay, ngoài những tác phẩm truyện ký và nghiên cứu phê bình văn học, anh có 8 tập thơ được ấn hành rộng rãi trong cả nước và được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận. Từ Trầm hương của gió (2003) đến Linh thoại (2025), anh đã hình thành được chất thơ và thi pháp thơ riêng. Chất thơ ấy luôn xuất phát từ tâm hồn đa cảm và vốn sống, vốn văn hóa - nghệ thuật vững chắc của anh để biến chúng từ cảm nghiệm trực quan, sinh động thành cảm xúc nội tâm của ý thức thẩm mỹ để cuối cùng thành quan niệm và cảm hứng sáng tạo thi ca luôn bất ngờ, mới mẻ. Thơ Võ Văn Luyến, vì vậy, thuộc mỹ học của cái đẹp nhân văn gắn với cảm thức hiện sinhcái nhìn hiện tượng luận mới mẻ qua từng đối tượng và kinh nghiệm quan hệ nhân sinh thời anh sống. Kết quả của quá trình sáng tạo đó, anh vinh dự nhận được rất nhiều giải thưởng văn học cao quý từ địa phương đến trung ương, tiêu biểu là: Giải thưởng VHNT năm 2022 của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Giải thưởng VHNT năm 2007 của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giải thưởng VHNT Chế Lan Viên lần thứ nhất tỉnh Quảng Trị năm 2015 và 7 Giải thưởng sáng tạo VHNT hàng năm của tỉnh Quảng Trị cùng nhiều giải thưởng khác. Điều đó chứng minh cho thành tựu vững chắc của anh trên từng chặng đường sáng tạo mà không phải nhà thơ nào cũng đạt được.

Trong bài viết ngắn này, tôi muốn chứng minh cho nhận định khái quát trên về thơ Võ Văn Luyến qua thi tập Linh thoại do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2025. Đây không phải là tập thơ hay nhất, nhưng theo tôi, là tập thơ tiêu biểu cho cá tính sáng tạo của anh, có sự ổn định và phát triển từ thi pháp nền tảng ở những tập thơ trước, nhưng có sự pháthay để đổi mới, nhất là trong việc xây dựng hình tượng thơ và kiến trúc ngôn từ thơ - hai bình diện quan trọng nhất để tạo thành chỉnh thể nghệ thuật cho từng thi phẩm.

Dù không tuyên ngôn bằng nghị luận về chức năng của thi ca và vai trò của thi sĩ, nhưng qua những ý kiến rời bằng thơ, ta có thể thấy Võ Văn Luyến luôn suy nghĩ và ám ảnh về chức năng của nghệ thuật kỳ diệu này bằng những ý nghĩ và cảm niệm riêng của anh đặt trong từng quan hệ bản chất và quan hệ tương tác với tình yêu và nhân sinh - thế sự. Trước hết, thơ phải bắt nguồn từ thiên nhiên và cuộc sống. Nhà thơ phải quan sát, nắm bắt và thể hiện khách thể bằng sự cảm nhận và hòa nhập với từng đối tượng để phát hiện những vẻ đẹp của chúng đối với con người: “thơ xúc động sản sinh từ xúc động/ nhưng cũng cần khai phóng những chân trời/ ở đất nước lắm sinh ly tử biệt/ thơ dễ dàng lót ổ nước mắt rơi”.

Nhà thơ phải là người biết đồng cảm với những số phận và hoàn cảnh cụ thể để “vực sự sống ba chiều lên trang thơ hai mặt phẳng” như Chế Lan Viên từng nói: “anh đi qua yếu lòng mà đứng dậy/ những buồn vui cơm bữa mỗi ngày/ máu chảy quanh hồn thợ cày thợ cấy/ bước điềm nhiên dù lắm rủi may” để từ đấy anh đặt ra yêu cầu: “giấc mơ của loài thơ/ nhặt con chữ và thanh tẩy” (Giấc mơ). Nhà thơ phải luôn sáng tạo và đổi mới bằng con chữ có hồn và có ý nghĩa. Không thể ảo tưởng mình tài ba nhưng chỉ viết nên những câu thơ bông phèng, nhạt nhẽo. Nhà thơ phải luôn học hỏi, sáng tạo và chân thật đến tận cùng câu chữ: “Tôi không tin gieo cẩu thả gặt vàng tâm/ gieo sân hận gặt mơ mộng/ tay trắng tay lấy gì hào phóng/ chữ như hạt lúa mất mùa” (Sáng tạo).

Muốn vậy, mỗi thi sĩ phải góp nhặt ngữ ngôn và luôn đối diện với ngọn đèn và trang giấy nhằm hiện sinh tư tưởng qua từng con chữ để tạo ra “bóng chữ” như nhà thơ Lê Đạt từng tâm niệm: “niềm vui như gió thoảng qua mỗi ngày/ đối ảnh đêm/ con chữ ngơ ngác nỗi riêng/ không thể nào chợp mắt” (Đối ảnh). Và một điều quan trọng nữa là thơ phải luôn đổi mới - đổi mới để thơ không cũ, giống như chiêm ngưỡng người yêu, thấy mỗi ngày mỗi đẹp. Bài thơ sau phải khác và hay hơn bài thơ trước một ít để thơ luôn tươi xanh, tránh lối mòn đơn điệu và tẻ nhạt. Muốn vậy, thơ phải đến hiện đại từ truyền thống: “sự hôn phối phi truyền thống những con chữ dựng dậy/ thách thức cái cũ mòn/ cái trơn tuột đơn điệu tẻ nhạt/ cái suy yếu tỏa phát năng lượng”. Thơ phải tương hợp và đa thanh từ chính sự đổi mới của ngôn ngữ cùng với cái tôi đang tư duycái nhìn nghệ thuật luôn năng động, biến hóa. Có vậy, thơ mới thực sự phục sinh và liên tục mới theo tầm đón nhận của độc giả và của chính bản thân thi ca.

Từ những quan niệm và kinh nghiệm sáng tạo như trên, Võ Văn Luyến đã không ngừng tìm tòi, cách tân thơ theo tinh thần dung hòa giữa cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại để làm đẹp hồn thơ và đa dạng hóa hình thức thơ. Tiêu đề các tập thơ của anh như: Trầm hương của gió, Sự trinh bạch của ngọn nến, Người câu bóng mình, Mật ngôn của biển, Mây âm tính, Linh thoại… đã phần nào thể hiện cảm niệm mới mẻ và đa dạng của anh về thơ mà tất cả đều bắt đầu từ ngôn ngữ - chất liệu tạo nên nội dung thơ, diễn ngôn thơ - tức toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ.

Với những quan niệm tản mạn về thơ như trên, nhưng cũng đủ để Võ Văn Luyến hình thành ý hướng tính sáng tạo vào chức năng mỹ học cao đẹp của thơ. Trước hết, là trách nhiệm làm người chân thật trong từng cảm xúc và ý nghĩ của mình trước thơ. Người làm thơ phải luôn đối diện với những bất an và tai họa đến từ thiên nhiên và con người để vươn lên khắc phục tình cảnh và nhân đạo hóa hoàn cảnh. Phải không ngừng khắc phục sự bất tín nhận thức khi đối diện với chính mình và hoàn cảnh khách quan để thơ luôn không ngừng vận động và phát triển, để cảm nhận đời sống và phản biện đời sống. Sự phản tỉnh trước những bất ổn và bất an như trên để cuối cùng thơ và người thơ luôn trung thực trong từng cảm giác nhỏ bé. Từ

Võ Văn Luyến luôn nhìn đời bằng con mắt thời gian để biết mình hiện hữu trước khi tự mình tạo ra yếu tính để khẳng định nhân vị và ý nghĩa hiện sinh đời người. Bởi vì như anh quan niệm: “danh phận rồi ra trả có về không/ trời xanh suốt còn đất mục rã/ thế giới ngoài kia quả thật kỳ lạ/ ngỡ chưa từng mơ đến xưa sau”. Từ đó, anh triết nghiệm về thời gian khách quan thường nghiệm của sự vật, hiện tượng và thời gian sinh học đời người trong sự đối sánh với ý nghĩa và giá trị của sự tồn sinh.

Thời gian không dửng dưng, vô nghĩa mà nó luôn phản chiếu lên từng đối tượng/ khách thể và chủ thể người, nhưng chỉ có con người mới ý thức về nó một cách cụ thể và nhức buốt nhất. Chỉ có con người mới biết mình là ai, mình hiện hữu như thế nào giữa không gian không ngừng thay đổi và dòng thời gian luôn trôi về phía trước mà có lúc mình lạc loài, bất lực. Và khi ấy, chỉ có thơ mới vực người thơ bừng tỉnh trước thiên nhiên hoa cỏ. Cuối cùng, chỉ có tờ lịch ta bóc mỗi ngày là nhân chứng giúp ta cân bằng tâm thế và không ngừng tin yêu, hy vọng: “Tờ lịch cuối cùng không ai chào đón/ mỗi ngày lên thêm dấu chân chim/ ta nhắc ta chớ thôi hy vọng/ dù ngoài kia đang tan rữa yêu tin” (Thời gian rơi hy vọng vẫn xanh màu).

Dẫu vậy, con người thường đối diện với nỗi buồn trước nhân tình thế thái, cả trong đời thực lẫn trong mơ. Nhưng rồi tâm lý tự vệ luôn giúp con người tìm cách phủ định những bất ổn trong thực tại để hướng về phía chói chang ánh trời, ngay cả trong giấc mơ vô thức cũng diễn ra cơ chế tâm lý tự vệ như thế: “những giấc mơ trốn gặp/ chẳng lẽ trắng tay/ anh không tin xa xôi không tới được/ khi trái tim nghiêng nhịp đập phía này (Những giấc mơ đồng hành).

Dù cuộc sống có diễn ra thế nào đi nữa thì thơ Võ Văn Luyến vẫn dào dạt tin yêu và nhân hậu với chính mình và cuộc sống. Bởi vì anh tin bốn mùa cỏ hoa vẫn mọc, vẫn tươi xanh cùng trăng sao và ánh nắng; chúng dâng tặng cho đời những giấc mơ cỏ hát, giống như bầu trời cao rộng luôn mở sự bay cho những gì không có cánh để tạo nên những tương quan và tương hợp mới. Triết lý về niềm tin và khát vọng trong thơ Võ Văn Luyến luôn tươi mới, đồng nghĩa với nguyên xuân, nguyên mộng, nguyên tình. Nếu Xuân Diệu trong bài thơ Nụ cười xuân đã vẽ nên bức tranh xuân tươi vui rộng mở buổi đầu tiên theo cảm nhận của ông: “Tôi đi giữa buổi đầu ngày, đi giữa/ Buổi đầu xuân - đi giữa buổi đầu tiên/ Như sáng nay cuộc đời vừa mới mở/ Và ban đầu cây với gió cười duyên”, thì Võ Văn Luyến cũng cảm thức không - thời gian mùa xuân như vậy, nhưng có kiểu diễn ngôn khác: “buổi sáng nào mà không giống nhau/ dù mưa dù nắng ra làm sao/ có tiếng nhà bên như chim hót/ lanh lảnh trong ta ngỡ ai chào”. Nguyên xuân lại hiện về để tình xuân, cảnh xuân và hồn xuân cộng cảm thành thơ xuân thanh tân vẫy chào ngày mới.

Đam luyến mùa xuân và sự tinh khôi của thiên nhiên, tạo vật như thế hẳn nhiên Võ Văn Luyến khao khát yêu và triết lý khi yêu để thanh tân tâm hồn và thanh tân thơ là thôi thúc tự nhiên để trước hết nói với trái tim mình về tình yêu, tình thơ và sau đó, thông điệp với mọi người về nỗi niềm dâu bể mà mình nếm trải trong tình nhân và tình trường. Muộn mà biết muộn để vội vã yêu, lấp đầy mặc cảm khuyết, rỗng trong tâm hồn là cách đi tìm thời gian và phục sinh thời gian đã mất mãnh liệt nhất của Võ Văn Luyến. Hóa giải trạng thái khuyết, rỗng không gì khác hơn là vọng tưởng và mơ tưởng những hồng phúc rồi sẽ đến để lấp đầy và chữa lành thương tích, bởi dù em xa nhưng mộng cũ vẫn cầm tay và lung linh tình sử.

Dù em xa nhưng còn yêu là còn hy vọng, còn có thơ tình nuôi giữ tháng ngày xanh, còn có giấc mơ buồn xua đi bao sầu khổ: “à ơ ngủ đi tôi ơi/ mắc chi ôm mộng rã rời thêm đau/ ngủ đi trời đất nhiệm màu/ xanh tươi lá sớm nuôi câu thơ tình” (Ru đêm). Ru đêm hay ru đau cũng thế! Để còn yêu và còn ước nguyện. Dẫu cũ càng, nhưng không thôi nuôi dấu yêu bởi tình chúng mình ngày xưa có nụ tầm xuân - là em e ấp, chứng giám cho những rung động đầu đời nên dẫu có chia xa thì vẫn không thôi luyến lưu, yêu thương và vọng niệm: “Cũ thôi/ Tuổi rụng nát nhàu/ Người quên hò hẹn/ Nhớ câu lỗi mùa/ Trăm năm/ Yêu vẫn chưa bưa/ Ngẩn ngơ lá thắm/ Day dưa son hồng/ Đêm nghe ước hẹn bềnh bông/ Cũ càng xin tiễn qua sông/ Ta về” (Tầm xuân). Ta về, ta xa nhau trong bâng khuâng hoài cảm là vậy! Nhưng như vậy đâu dễ dẫn đến kết thúc một cuộc tình? Mà lại mở ra những chân trời mơ ước khác, có khi dâng trào, mãnh liệt hơn xưa.

Một kiểu ước mơ rất tươi xanh và hồng tươi hy vọng mà nỗi nhớ là nhịp cầu nối liền giấc mơ và hiện thực, quá khứ và hiện tại, mơ yêu và hoan ca trong nhịp đập ái tình. Vì thế, tình yêu trong thơ Võ Văn Luyến không có đường biên giới hạn, thách thức cả thời gian và mọi rào cản quyền linh, mê muội, trở thành mật ngôn và mê ngôn của tình yêu trong mơ tưởng. Bởi vì anh biết rằng, mọi cuộc tình đến tận cùng vẫn xôn xao như cỏ, trước khi tàn phai, chúng đã thiết tha xanh biếc dâng mùa.

Điều này gợi liên tưởng đến hình tượng Eros trong thần thoại Hy Lạp và khái niệm bản năng sống (life instinct) trong phân tâm học của S. Freud. Cả hai đều nói lên sự đam mê mãnh liệt trong ái tình và dục tính, nhưng với Võ Văn Luyến, sự đắm si ấy lại mang vẻ đẹp chân quê, chân cảm mà ngát tình theo kiểu “nhà nàng ở cạnh nhà tôi” thời trẻ trai và thiếu nữ: “Thôi xin về lại chân quê/ Váng phèn bám gót đất lề thói xưa/ Ao vua đổi lấy ruộng dưa/ Mát lòng câu dạ lời thưa ngát tình” (Xin thưa em với quê nhà). Chính vì thế mà người thơ luôn nhìn lại lòng mình để hiểu tình duyên và định phận: “chẳng có gì buồn hơn chẳng có gì vui hơn/ quá nửa đời ngả nghiêng tóc bạc/ giấc mơ phai rộn ràng cũng khác/ biển lặng như không biết giận hờn”. Để cuối cùng, anh và em cùng nhận ra sự đắm si và dại ngộ trước quy luật của thời gian và quy luật của trái tim đa chiều cảm xúc,

Những phức cảm tình yêu và triết lý khi yêu như trên, chứng tỏ Võ Văn Luyến là người không dễ dãi và phung phí tình yêu như nhiều người mắc phải. Trái lại, anh rất xem trọng và nâng lĩnh vực kỳ diệu này lên thành ý nghĩa cao đẹp mang tính mỹ học và biểu trưng cao quý. Điều này đã được nhà tư tưởng người Nga Vladimir Soloviev thực chứng trong tác phẩm triết học nổi tiếng The Meaning of Love (Siêu lý tình yêu). Ông cho rằng trong tình yêu, không chỉ dừng lại ở tính dục và tính ưu sinh để lưu truyền sự sống mà cần phải chú ý đến yếu tố tâm linh và triết mỹ để hai chủ thể yêu vượt qua tính vị kỷ cá nhân, dẫu có chia ly, bất ổn, họ vẫn hiểu và nhận ra chân giá trị của tình yêu mà hai người từng mơ ước, tức là phải thấy được sức quyến rũ của người mình yêu nhằm nâng cao và thanh lọc tâm hồn, hướng đến sự rung động và hòa hợp cao đẹp. Từ quan niệm “siêu lý tình yêu” của V. Soloviev, đối chiếu với những cung bậc tình yêu của Võ Văn Luyến như trên, có thể nói rằng anh đã thực sự nếm trải những kinh nghiệm vui buồn để yêu thương, mơ mộng và lưu giữ bằng tiếng nói thi ca.

Bên cạnh đề tài tình yêu, trong Linh thoại, Võ Văn Luyến còn quan tâm đến đề tài nhân sinh - thế sự để mở rộng chiều kích, nhịp điệu của cuộc sống và tăng cường tính triết lý cho thơ. Đứng trước bức tượng vô hình, anh nghĩ về tâm thế và dáng đứng của người lính năm xưa bằng cái nhìn song song và đối lập, giúp người đọc nhận ra bản chất và ý nghĩa của hình tượng. Dù chưa kịp hoàn thành trọng trách đạo đức và trọng trách lịch sử, nhưng bức tượng vô hình đã là thông điệp về sự lặng im bất tử của một người lính trước thiên nhiên, đất nước: “bấy nhiêu năm ngọn tóc pha sương/ bấy nhiêu mịt mù vàng rơi nghẽn mắt/ những trang giấy gói nỗi hờn chôn chặt/ máu xanh đường rừng/ bão trần gian quăng quật/ ném nụ cười vào mưa/ thắng tích loang rêu vết nhớ/ người tạc tượng vô hình” (Bức tượng vô hình).

Cũng trong mạch cảm xúc như trên, Võ Văn Luyến đã trầm tư về những gì đồng nghĩa với sự bất tử và sinh sôi vĩnh cửu của sự sống. Mà trước tiên là hình tượng đất. Đất được xem là cổ mẫu (archetype) thuộc vô thức tập thể, biểu trưng cho sự sống từ ngàn xưa và mãi mãi đến ngàn sau: “Đất như máu/ thấm từ vạn cổ/ thuở cha ông đánh giặc/ cháu con vui sống mỗi ngày/ hạnh phúc đến được cái cầm tay/ phải đi qua gian lao không nghỉ/ đi qua nước mắt thành sông/ đi qua hồn thơ điệu nhạc/ người lên núi/ người ra khơi/ rừng vàng biển bạc muôn đời/ niềm kiêu hãnh con Hồng cháu Lạc”. Nhờ kiểu tư duy song song và đối lập, giúp anh thể hiện hình tượng ở chiều sâu, giàu sức gợi và sức liên tưởng để tạo sinh nghĩa triết mỹ bất ngờ. Anh đã thổi vào linh hồn đất sự song hành và tương phản để nói về những điều cao hơn chính nó mà có lúc, con người phải hiểu bằng tâm linh, độc thoại và linh thoại mới nhận ra ý nghĩa thiêng liêng của đất mà bao thế hệ tiền nhân và cha ông chiến đấu, hy sinh để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ cho cây xanh và trái ngọt muôn đời trĩu quả.

Thơ Võ Văn Luyến thường cấu trúc hình tượng/ hình ảnh theo ngôn ngữ, nhịp điệu song song và đối lập như thế để giúp độc giả cùng mình ngẫm suy về nhân sinh, thế sự và thiên nhiên, vũ trụ bằng cái nhìn có tính triết học hiện tượng luận (phenomenological philosophy) sâu sắc để làm giàu nhận thức và suy nghĩ. Bài thơ sau đây cũng được cấu trúc theo hai kiểu tư duy trên để triết luận về cỏ, dù đó chỉ là cỏ dại: “đám cỏ không còn nằm yên sau bìa làng nữa/ cơn bão đêm qua như một phép màu/ chúng nhận ân sủng thay thế tàn rữa/ nõn chạm ngày đau”. Dẫu bị dập vùi, nhưng sau bão giông, cỏ lại tươi non màu lá mới. Cỏ vừa là nó, nhưng đồng thời cỏ vừa là hình tượng mang tính biểu trưng để nói về sự sống mạnh mẽ và vươn lên kỳ diệu của nó trước mọi khắc nghiệt của thiên nhiên, vũ trụ.

Cái nhìn cuộc sống bằng thực chứng và triết nghiệm như thế đã làm cho thơ Võ Văn Luyến đậm chất nhân văn, luôn suy nghĩ và truy tìm ý nghĩa của đời sống và của mỗi nhân vị. Anh luôn băn khoăn về nỗi mình và sự đời, về hiện thực và ước mơ, giữa cái đã có và cái cần có/ sẽ có - tức là băn khoăn và sự lựa chọn hành vi đạo đức theo phán đoán đúng để làm người cao đẹp, phù hợp với nhân tính và chân - thiện - mỹ.

Càng về đích của hiện hữu, Võ Văn Luyến càng âu lo và suy ngẫm về sự tồn tại của mỗi phận người, trong đó, có chính mình trước sự trôi chảy không ngừng của thời gian và sự hữu hạn của mỗi cá thể. Vì vậy, con người không được bình thản mà phải luôn phản động lại mọi thờ ơ, nguội lạnh để chính mình và hoàn cảnh được tích cực, thanh lọc và nhân đạo hóa. Phải luôn ý thức về thời gian sống để sẵn sàng mở lòng đón nhận những ba động của cuộc đời; từ đó, vượt lên hoàn cảnh và số phận để tồn tại có ích, có ý nghĩa, nếu không, ta sẽ là người thất bại, là tù nhân của thời gian và khát vọng tự do.

Điều này cũng được Võ Văn Luyến triết nghiệm qua kinh nghiệm làm thơ và khát vọng mong thơ mình luôn đổi mới và phát triển, nhưng phải luôn gắn với những vui buồn, ân nghĩa quanh đời, luôn âu lo và thao thức: “mỗi bài thơ một viên đạn tôi bắn/ giết nỗi buồn cứu lấy niềm vui”. Biết vượt lên nỗi buồn để chấp nhận với thực tại, dẫu có khi đó chính là thực tại đối lập với những gì mình nghĩ suy và mong ước. Nhưng biết làm sao được, phải dũng cảm phá bỏ/ thay đổi cái cũ để tạo ra cái mới. Đó là những chân trời của khát khao đổi mới thi ca và hy vọng vào sự tốt đẹp của tình yêu, cuộc sống và sự sáng suốt nhân tính mà Võ Văn Luyến luôn mơ mộng, không có trở lực nào ngăn cản đường bay mới của anh trên hành trình về đích của cuộc sống và thi ca.

Vậy là tôi đã nương nhanh theo Linh thoại để hiểu về chất thơ, hồn thơ và triết lý thơ Võ Văn Luyến. Và tôi đã thỏa mãn trong tiếp nhận thẩm mỹ của mình với tư cách là người đồng bệnh văn chương, cùng thao thức và âu lo về nhân tình thế thái, về sự tồn tại và phát triển của thi ca nước ta trên hành trình hiện đại và đương đại. Thơ anh kết hợp hài hòa giữa mỹ học thơ truyền thống và mỹ học thơ hiện đại, nhưng trước hết, chú trọng sự sáng tạo tứ thơ. Sau đó là đổi mới diễn ngôn thơ trên cơ sở liên kết từ ngữ theo thi pháp nhịp điệu tiếng Việt (Vietnamese rhythmic poetics) nên tạo ra sự hài âm, tương giao đa dạng. Nên dù là thơ tự do, nhưng đọc lên vẫn âm vang, giàu nhạc tính, do anh nắm vững cách gieo vần và cách tổ chức câu thơ theo luân phiên bằng - trắc để tạo tiết tấu/ nhịp điệu, đọc lên dễ nội cảm, dễ nhớ. Một đặc điểm nữa tạo hấp lực ở thơ anh, đó là sự tăng cường tính nghiệm sinh, triết lý để thơ có chiều sâu tư tưởng và đa nghĩa trong tiếp nhận của người đọc. Trong dòng chảy chung của thơ Việt hiện nay, Võ Văn Luyến tạo được thi pháp và hiệu quả riêng trong tiếp nhận và đối thoại với người đọc, nhất là người đọc đồng sáng tạo.

 

                                                             Vỹ Dạ - Huế, 5/2026   

                              H.T.H