Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Khi người đàn bà làm chủ nỗi đau

 HOÀNG THỤY ANH      18/07/2026    32
Lập lòe kính lúp cho thấy độ chín trong cách nhìn đời sống của Nguyễn Hương Duyên, nhất là đời sống tinh thần con người trước nhiễu động của xã hội và dư chấn chưa khép lại của chiến tranh. Đặt trọng tâm vào tâm lý, sự im lặng và các khoảng trống cảm xúc, chị nhận diện, gọi tên được thương tổn đang tồn tại trong mỗi phận số. Điểm đáng ghi nhận trong tập truyện là khả năng kết nối câu chuyện riêng tư vào mạch văn hóa bằng lối kể tiết chế để nhân vật hiện lên với sự phức tạp rất đời. Văn xuôi chị tinh tường trong phân tích tâm lý, điềm tĩnh trong giọng kể nhưng vẫn giữ được độ ấm nóng của lòng trắc ẩn. Tập truyện đã góp thêm một tiếng nói riêng cho văn xuôi Việt Nam đương đại, nhất là ở những trang viết về gia đình, người lính và những dư chấn còn kéo dài sau chiến tranh.


Tôi rời trường cấp 3 ở vùng ven thành phố Đồng Hới để về công tác ở Tạp chí Nhật Lệ khi mọi thứ còn rất mới mẻ. Nguyễn Hương Duyên là một trong những người đầu tiên tận tình chỉ dẫn và nâng đỡ tôi. Chị tỉ mỉ chỉ bảo tôi từng chi tiết nhỏ, từ kỹ năng đọc morat đến những thao tác biên tập đòi hỏi sự cẩn trọng, nhẫn nại. Mối thâm tình đồng nghiệp cứ thế bồi đắp, trở nên khăng khít và tin cậy. Nhớ nhất là những buổi chúng tôi cùng nhau chuyện trò về sách vở và văn chương. Vốn tính ít nói, sống kín đáo, chị hiếm khi nói nhiều về mình. Chị thường lựa chọn vị trí người quan sát điềm tĩnh, chậm rãi ghi chép và nâng niu từng rung động trong tâm hồn con người và những cảnh ngộ xung quanh mình. Lối sống hướng nội này đã ít nhiều in dấu vào trang viết, tạo nên thế giới văn chương đầy ắp suy tư, trở trăn.

Ngay từ truyện ngắn đầu tay Bến đợi nhọc nhằn, sáng tác khi mới ngoài hai mươi tuổi, Nguyễn Hương Duyên đã xuất hiện với giọng văn mềm mại, tinh tế, thiên về khai thác những chuyển động giằng xé trong đời sống nội tâm. Ngòi bút của chị hướng vào thế giới những chịu đựng sầu muộn cùng nỗi day dứt khó gọi tên của người phụ nữ trước các ngã rẽ thân phận. Bốn tập truyện Bến đợi nhọc nhằn, Ở giữa những người đàn ông, Hai chị em, Viết tặng anh từ căn bếp này có thể xem là bốn lát cắt liên tiếp dò tìm những uẩn khúc trong tình yêu lẫn đời sống gia đình. Những câu chuyện chị viết rất chân thực, có cảm giác đã từng bắt gặp đâu đó. Chị đặc biệt quan tâm đến những vết rạn của lòng tin và những đổi thay âm thầm trong cảm xúc con người.

Lập lòe kính lúp đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hành trình sáng tác của Nguyễn Hương Duyên. Vẫn trung thành với trục đề tài về đời sống riêng tư, hôn nhân và những đứt gãy tình cảm, tuy nhiên các nhân vật ở tập truyện này đã thoát khỏi phạm vi bi kịch cá nhân để đối diện với những biến động, đổi thay của thời đại.

1. Sức hấp dụ của tập Lập lòe kính lúp nằm ở khả năng giải phẫu tâm lý phụ nữ sau những đổ vỡ sắc lạnh nhưng đong đầy thấu cảm. Chị không xây dựng hình tượng phụ nữ như những nạn nhân thụ động hay đành lòng cam chịu số phận. Người phụ nữ dù đối mặt với sự phản bội hay nghịch cảnh tréo ngoe vẫn luôn giữ vững sự kiêu hãnh và lòng tự trọng. Họ dám đối diện trực tiếp với nỗi đau, dám lựa chọn sự chia ly để giải thoát chứ nhất quyết không ôm ấp thứ hạnh phúc đèm đẹp giả tạo. Như một sự xác tín về quyền tự quyết, chị khẳng định: “Đàn bà, một khi lòng tự trọng đã bị tổn thương, khi biết mình không được coi trọng như hằng nghĩ, thì họ nguội lạnh nhanh lắm, lạnh như những cơn gió mùa đông bắc thổi tràn qua biển, buốt và hững hờ” (tr.44 - Đàn bà thiết tha). Cách viết của chị do đó tránh được lối mòn của dòng văn chương nạn nhân, của lối viết nước mắt ủy mị.

Ngân trong truyện Lập lòe kính lúp là kiểu nhân vật hiện thân cho sức mạnh của sự nhẫn nại và lòng tự trọng. Đối diện với cơn bão nghi ngờ và sự chiếm hữu cực đoan của Vũ, Ngân không chất vấn tranh cãi ồn ào cũng không lụy tình, mềm yếu, nhu nhược. Ngân làm chủ nỗi đau bằng thái độ điềm tĩnh, bằng sự im lặng đầy quyền uy, bằng trạng thái “lạnh băng và trống rỗng” khiến Vũ phải tự soi xét lại sự nhỏ nhen, ích kỉ và giả dối của mình.

Bước ra từ nỗi đau góa bụa khi tuổi xuân chưa chạm ngưỡng ba mươi, chị Ni trong Đàn bà thiết tha đã gây dựng xưởng bánh và quán nhỏ, dùng sức lao động làm điểm tựa để bảo vệ tổ ấm trước những lời gạ gẫm hay thái độ khiếm nhã của khách. Sự kiêu hãnh của Ni nằm ở chỗ chị không cho phép mình trượt dài trong sự thương hại hay mong chờ sự bù đắp từ phía đàn ông. Chị tự đứng vững bằng sức lao động của mình, biết mình cần gì và không chấp nhận bất cứ sự thương hại nào. Khi không còn đặt hạnh phúc của mình vào sự chờ đợi hay những lời hứa hẹn của người khác, con người ta trở nên vững vàng hơn. Chị hiểu không ai có thể sống thay cuộc đời mình hay gánh giúp mình những mất mát, khổ đau. Công việc, quán bánh nhỏ và cuộc sống bình dị mỗi ngày là chỗ dựa để chị bước tiếp, vượt qua những cô đơn, sầu muộn và tìm lại sự bình yên trong lòng.

Lối viết sắc sảo của Nguyễn Hương Duyên còn thể hiện ở việc đặt nhân vật vào những tình huống đạo đức khó né tránh, buộc họ đối diện với phần mong manh nhất trong tâm hồn. Ở Lập lòe kính lúp, truyện ngắn cùng tên với nhan đề tập truyện, Hà là người bước vào mối quan hệ với vị thế “người thứ ba”. Hà xuất hiện đã làm lệch trục mô típ đối đầu quen thuộc giữa chính thất và tình địch. Hà nhắn tin, hẹn gặp Ngân, bước thẳng vào cuộc đối thoại vốn thường bị né tránh. Những lời Hà nói ra không vòng vo, không biện minh. Hà ý thức về tổn thương mình đã gây nên và nỗ lực giữ lại phần lương thiện cuối cùng trong mối quan hệ tay ba. Hà cho Ngân thấy những lung lay, đứt đoạn trong đời sống hôn nhân và sự hi sinh của Vũ nơi biên cương. Bởi vậy, cuộc gặp giữa hai người không trượt về phía đối đầu thù địch mà dừng lại ở sự lắng nghe, thấu cảm. Họ cùng nhau nhìn thẳng vào đổ vỡ và những tổn thương mà họ đang mang theo. Giữa hai người đàn bà đau khổ, ranh giới thù địch bỗng trở nên vô nghĩa trước nỗi đau chung về sự đổ vỡ của lòng tin. Câu chuyện khép lại trong nước mắt, thứ nước mắt làm dịu nỗi căng thẳng và cũng là thứ nước mắt của sự thức nhận và cảm thông.

Nguyễn Hương Duyên còn tiếp cận đa diện về hậu chiến dưới góc nhìn đời tư và nữ giới. Chị bóc tách những dư chấn, những nỗi đau ly tán kéo dài nửa thế kỷ và cả những sự thật từng bị thời gian che lấp. Chim bay về tổ kể câu chuyện chiến tranh thông qua thân phận thất lạc của những đứa con và cuộc đoàn tụ muộn màng nhờ xét nghiệm ADN. Chị thắt nút xung đột trong sự im lặng kéo dài, rồi tiếp tục tháo gỡ với thái độ điềm đạm, khoan dung. Nhân vật ông Hưng hiện lên với những nét tính cách đời thường, có ghen tuông vụn vặt, có tổn thương âm ỉ, nhưng đằng sau là sự cảm thông của một người lính từng đi qua lằn ranh sinh tử. Chi tiết con lai được chị xử lý chừng mực, gắn với mảnh vỡ lịch sử, tránh cảm giác khiên cưỡng. Truyện chị đặt ra thông điệp, hòa bình chỉ thực sự trọn vẹn khi con người đủ can đảm đối diện vết sẹo của chính mình và thấu hiểu nỗi đau của người khác.

2. Nguyễn Hương Duyên có cách thiết lập không gian và kiến tạo hình ảnh riêng, chị sử dụng chúng như những tín hiệu biểu đạt tâm lý phức tạp. Mọi biến động nội tâm đều tìm thấy sự đồng điệu trong ánh sáng, gió núi và những vật dụng quen thuộc. Chiếc điện thoại, căn nhà gỗ miền biên viễn hay một bếp lửa âm ỉ,… như mang vác nỗi buồn, thay nhân vật nói lên điều khó giãi bày. Nhờ vậy, thế giới nội tâm của nhân vật thêm phần kín đáo, gợi nỗi niềm u uất nhưng giữ được sự chừng mực, không có cảm giác bi lụy hay than vãn.

Biểu tượng kính lúp đỏ nhấp nháy từ thông báo Zalo trong Lập lòe kính lúp đóng vai trò là ngòi nổ cho chuỗi hành vi và phản ứng tâm lý của nhân vật. Có âm báo Zalo nhưng nội dung bị che khuất. Khoảng trống thông tin ấy lập tức bị Vũ lấp đầy bằng nỗi nghi ngờ. Chiếc kính lúp đỏ đã làm hiện hình vết rạn đã tồn tại và kéo dài trong đời sống của hai vợ chồng bấy lâu nay. Phản ứng hoảng loạn của Vũ trước “cuộc trò chuyện bí mật” của Ngân thực chất phản chiếu ngược những trải nghiệm che giấu mà anh từng thực hiện với Hà. Chiếc kính lúp lúc này không còn chức năng hé lộ bí mật của người vợ mà trở thành vật phóng đại nỗi bất an, sự tự nghi hoặc và tâm thế phòng vệ của người chồng. Vũ tự đẩy mình trượt vào vòng xoáy ngờ vực và phản ứng trả đũa sai lầm, làm khoảng cách giữa hai người ngày một cách xa.

Thiên nhiên trong thế giới của Nguyễn Hương Duyên đồng hiện cùng nhân vật như một thực thể có tâm hồn. Từ cái lạnh “biên giới ra giêng” đến tiếng gió “lào khào vỡ vụn” thốc vào vách gỗ, tất cả như đang phản chiếu sự chênh chao của một cuộc tình bên bờ đổ vỡ. Nhưng cũng chính thiên nhiên dự báo về sự hàn gắn qua hình ảnh “hoa rừng hớn hở trải thảm” dưới nắng mai. Vạn vật chuyển mình nhịp nhàng theo từng bước đi của cảm xúc, đưa không gian miền biên viễn hòa vào hành trình quay lại của những tâm hồn sau bao ngày lạc nhau.

Hình ảnh bếp lửa lặp lại trong truyện của Nguyễn Hương Duyên chứa đựng biểu tượng hàn gắn, nâng đỡ đời sống tinh thần nhân vật. Đó là điểm kết nối của hơi ấm, của sự quây quần và của nhu cầu tự giữ mình trước những thời khắc con người chạm đến tột cùng chịu đựng. Ngọn lửa “le lói bám vào thanh củi khô” trong Lập lòe kính lúp hay bếp lửa đỏ lừ giữa mưa xuân đêm giao thừa trong Tí tách mưa xuân gợi không gian ấm áp, tươi vui. Cuối truyện Lập lòe kính lúp, chi tiết già Đinh Hiêng lặng lẽ chêm thêm củi cho lửa bùng lên dường như cũng góp phần làm dịu bớt những căng thẳng và khép lại câu chuyện trong một không khí nhân hậu hơn. Thiên nhiên và những đồ vật quen thuộc can dự vào văn bản như những người bạn đồng hành với nhân vật trong những thời khắc khó khăn nhất.

Nguyễn Hương Duyên thường đi đến tận cùng nỗi buồn để con người nhận diện những giới hạn chịu đựng của bản thân. Ở điểm chót của nỗi đau, sự chấp nhận và lòng bao dung mới nảy sinh. Trong Đàn bà thiết tha, mưa tạt vào mái hiên quán nhỏ, hơi nước li ti và mùi bánh bốc lên từ nồi hấp sôi “lục sục” làm đặc quánh nỗi cô đơn và sự nhẫn nại của người đàn bà góa giữa những buổi chiều buồn. Sang Kể chuyện Y May, nắng chiều “vàng úa”, đọt ngô “héo rũ”, con suối “cạn trơ đáy” như cụ thể sự bế tắc và tuyệt vọng của người mẹ trẻ liên tục mất con giữa miền núi khô hạn. Ở đây, số phận con người luôn được chị đặt trong sự cộng hưởng với thiên nhiên và cảnh vật xung quanh. Nhân vật hòa mình vào nắng mưa, nếm trải mọi vị mặn chát của cuộc đời để rồi từ những tổn thương đó, họ tìm thấy sức mạnh, tự đứng dậy và tiến về phía trước.

Lập lòe kính lúp cho thấy độ chín trong cách nhìn đời sống của Nguyễn Hương Duyên, nhất là đời sống tinh thần con người trước nhiễu động của xã hội và dư chấn chưa khép lại của chiến tranh. Đặt trọng tâm vào tâm lý, sự im lặng và các khoảng trống cảm xúc, chị nhận diện, gọi tên được thương tổn đang tồn tại trong mỗi phận số. Điểm đáng ghi nhận trong tập truyện là khả năng kết nối câu chuyện riêng tư vào mạch văn hóa bằng lối kể tiết chế để nhân vật hiện lên với sự phức tạp rất đời. Văn xuôi chị tinh tường trong phân tích tâm lý, điềm tĩnh trong giọng kể nhưng vẫn giữ được độ ấm nóng của lòng trắc ẩn. Tập truyện đã góp thêm một tiếng nói riêng cho văn xuôi Việt Nam đương đại, nhất là ở những trang viết về gia đình, người lính và những dư chấn còn kéo dài sau chiến tranh.   

H.T.A