☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Zalo

Nguyễn Khải - một ngòi bút nổi bật ở “tính vấn đề”     

THÁI PHAN VÀNG ANH    26/09/2026    174
Năm 1995, khi Nhìn lại những trang viết của mình Nguyễn Khải vẫn mong muốn viết khác trước, bởi ông cho rằng: “Nghệ thuật đích thực phải là nhu cầu cấp thiết từ bên trong, từ ngọn lửa bùng cháy từ bên trong. Và khi nó đã phá ra được một cửa để câu chữ, hình ảnh, cách bố cục tràn ngập trên trang giấy thì chính người sinh thành ra nó cũng không biết là mới, là lạ, là đẹp, chỉ thấy phải như thế, bắt buộc là như thế”. Sau lần “nhìn lại” này, Nguyễn Khải vẫn tiếp tục có những tác phẩm mới như Sống ở đời (tập truyện, 2003), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2003), Tìm lại cái tôi đã mất (tùy bút, 2006); thể hiện quan niệm về một hình thức nghệ thuật mới: “Nó là sự từng trải già ẩn trong cái vỏ bọc trẻ. Là sự tích lũy dài ngày, một đời chạm được vệt sáng vĩnh cửu chói lòa trong giây phút”. Quả là đến những ngày tháng cuối đời, ngọn lửa bên trong của Nguyễn Khải vẫn luôn bùng cháy. Văn chương Nguyễn Khải vẫn luôn mang tính vấn đề, từ đề tài, cốt truyện đến nhân vật và lấp lánh chất trí tuệ của một nhà văn luôn ý thức sâu sắc rằng: “Nếu một truyện ngắn hoặc một cuốn tiểu thuyết chỉ có chuyện của người không có chuyện của mình thì mạng sống của nó không thể dài hơn một bài báo”3.

                               

 

Nguyễn Khải là một trong những nhà văn có quá trình sáng tác lâu dài, bền bỉ và nhiều sáng tạo. Ông cũng là một trong số không nhiều những nhà văn có dấu ấn phong cách riêng, thành công ở nhiều chặng đường sáng tác, với những tác phẩm thể hiện được các vấn đề cốt lõi của đời sống cũng như tinh thần của thời đại và dân tộc. Sinh năm 1930 tại Nam Định và mất năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh, trong vòng 78 năm tại thế, Nguyễn Khải đã sáng tác gần 40 tập tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, kịch…, liên tục trong hơn 40 năm, nếu tính từ tác phẩm đầu tiên, Xây dựng (truyện vừa - 1952), cho đến tác phẩm cuối cùng, tùy bút Tìm lại cái tôi đã mất (2006). Với sự nghiệp văn học đồ sộ, với những năm tháng phục vụ quân đội và cống hiến cho nền văn học nghệ thuật nước nhà1, Nguyễn Khải thật xứng đáng khi nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982 cho cuốn tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000 về văn học nghệ thuật và giải thưởng văn học ASEAN năm 2000.

Năm 1995, trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Khải đã tự phân chia sự nghiệp sáng tác của mình thành hai thời kì: “Từ 1955 đến 1978, tôi sáng tác theo một cách, từ 1978 đến nay, theo một cách khác”2. Có cái “khác” này là bởi bối cảnh thời đại khác, đề tài và chủ đề, tư tưởng trong các tác phẩm ở hai giai đoạn này tất yếu không giống nhau. Tuy vậy, cho dẫu sáng tác ở bất kì đề tài gì, văn chương của Nguyễn Khải vẫn luôn có “tính vấn đề”. “Tính vấn đề” ấy, qua ngôn ngữ sắc sảo, sinh động, qua lối viết giàu triết lý và thiên về kể hơn tả, đã làm nên một phong cách hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải, thống nhất trong toàn bộ các sáng tác của ông, dù ở bất kì một chặng đường hay một thể loại nào.

Cột mốc đầu tiên ghi dấu tài năng của Nguyễn Khải là truyện vừa Xây dựng được giải thưởng khuyến khích về truyện và kí (1951 - 1952) của Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ năm 1955 về sau, tài năng Nguyễn Khải ngày càng được khẳng định. Năm 1959, Xung đột (tập I) ra đời, bước đầu khẳng định một phong cách riêng, gắn với những năm miền Bắc bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xung đột đi sâu vào những mâu thuẫn gay gắt của xã hội. Tác phẩm viết về một vùng nông thôn Công giáo xây dựng chủ nghĩa xã hội với tất cả những khó khăn phức tạp của nó. Ngòi bút tỉnh táo của Nguyễn Khải đã vạch trần âm mưu và những hành vi phản động của những kẻ mượn chiếc áo chùng tôn giáo để phá hoại. Cha Lân là một nhân vật phản diện được xây dựng khá thành công với giọng nói “cứ trơn nhãy như bọc ngoài một lớp nhớt mỏng, rất khó nắm được ý thật của người nói và càng khó đề phòng”, với âm mưu dùng cái lưỡi như một vũ khí sắc bén, dùng nhà thờ như một khu vực tranh chấp không kẻ nào dám đoạt để chiếm tất cả, để thu phục thiên hạ. Xung đột là một thành công của Nguyễn Khải ở chặng đường đầu. Tác phẩm đã bộc lộ cái “tạng” riêng của nhà văn: “tính vấn đề” của tác phẩm và một ngòi bút hiện thực tỉnh táo.

Năm 1960 tập truyện ngắn Mùa lạc ra đời tiếp tục khẳng định phong cách Nguyễn Khải. Mùa lạc tập trung khai thác đề tài xây dựng cuộc sống mới. Đây là đề tài quen thuộc của văn học những năm 60. Trong Mùa lạc, ngòi bút Nguyễn Khải tập trung khai thác sự biến đổi của số phận con người, nêu lên con đường đi từ bóng tối ra ánh sáng của con người trong quan hệ xã hội mới. Phần lớn những truyện ngắn trong tập truyện Mùa lạc đều viết về cuộc sống ở nông trường Điện Biên - nơi tác giả đã từng đi thực tế để sáng tác. Cảm hứng chủ đạo của tập truyện là cảm hứng về sự hồi sinh. Cuộc sống hiện hình qua những sắc màu mơn mởn của thiên nhiên: “Mùa xuân thứ hai đã đến. Màu xanh thẳm của đỗ, của ngô, của lạc, màu xanh non của lá mạ, màu đỏ tươi của ớt chín lấn dần lên các thứ màu nham nhở, man rợ khác của đất hoang”; “Giữa cái màu xanh lặng lẽ của lá lạc, lá cỏ nghệ... nổi lên một miếng vàng sẫm của mấy mảnh gianh và lá cót đan lẫn lên nhau” (Mùa lạc). Trên cái nền hồi sinh của cuộc sống, nhà văn đặc biệt quan tâm đến những con người bất hạnh, có một quá khứ đầy gian khổ và được đổi đời trong môi trường lao động mới. Chị Đào, người phụ nữ xấu số, tứ cố vô thân, “đòn gánh trên vai, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường” đã được tìm thấy tình yêu, hạnh phúc ở mảnh đất Điện Biên (Mùa lạc). Em Tấm, một đứa trẻ mồ côi, tuổi thơ bị ngược đãi nên mất niềm tin vào cuộc đời, tâm hồn cằn cỗi, vẩn đục, đã tìm được sự cưu mang và có lại được niềm tin vào con người (Đứa con nuôi). Cô Thoa, một người phụ nữ giàu lòng yêu thương, khao khát hạnh phúc nhưng không được may mắn trong tình duyên và bị coi rẻ, cuối cùng đã vươn lên tìm thấy chỗ đứng xứng đáng của mình (Truyện người tổ trưởng máy kéo). Nhìn chung, tác phẩm của Nguyễn Khải những năm 60 thường nghiêng về cảm hứng phê phán, chẳng hạn như truyện vừa ra đời sau tác phẩm Mùa lạc là Tầm nhìn xa - phê phán những mặt tiêu cực của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp những năm 60. Có thể nói, nêu vấn đề và phê phán để hướng đến những giá trị tốt đẹp của con người, của tập thể và của đời sống mới, ngay từ chặng đường sáng tác đầu tiên, Nguyễn Khải đã xác lập được dấu ấn riêng của mình qua việc “đặt vấn đề” về những vấn đề trọng đại của đất nước, về mối quan hệ giữa quyền lợi tập thể, nhà nước và quyền lợi cá nhân.

Những năm chống Mỹ (1965 - 1975), Nguyễn Khải tập trung viết về đề tài chiến tranh. Nhìn chung, tác phẩm của ông nhằm ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đáng chú ý ở giai đoạn này, có thể kể đến ký sự Họ sống và chiến đấu (1966) và hai tiểu thuyết Đường trong mây (1970), Ra đảo (1970). Họ sống và chiến đấu là tập kí sự viết về những chiến công hào hùng của các chiến sĩ ở đảo Cồn Cỏ. Đường trong mây là tiểu thuyết viết về những chiến sĩ công binh vượt qua những thử thách khó khăn để làm đường thông xe. Tiểu thuyết Ra đảo xây dựng hình ảnh người chiến sĩ ở trận địa hải đảo. Những tác phẩm ở giai đoạn này đều nhằm ngợi ca sự hy sinh thầm lặng của những người anh hùng trên mặt trận chiến đấu.

Từ sau 1975 Nguyễn Khải sáng tác liên tục và gây được sự chú ý trong bạn đọc cũng như giới phê bình nghiên cứu. Nguyễn Khải được xem là một trong những nhà văn thuộc thế hệ cũ có nhiều tìm tòi đổi mới. Nếu như trước 1975 tác phẩm Nguyễn Khải thiên về những vấn đề thời sự nóng bỏng thì trong giai đoạn này nhà văn thiên về những vấn đề đạo đức xã hội với cách viết đầy chất triết luận. “Tính vấn đề” trong văn chương Nguyễn Khải tiếp tục bộc lộ rõ ở chặng đường này qua những đề tài mới, cách nhìn mới. Hiện thực đất nước và xã hội miền Nam sau chiến tranh trở thành mảnh đất màu mỡ cho nhà văn khai phá. Trong Gặp gỡ cuối năm, Nguyễn Khải đã nói lên quan điểm sáng tác của mình: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”. Đây cũng là chặng đường văn học, mà tính đối thoại được thể hiện rõ ở các trang viết của Nguyễn Khải, một cây bút ưa thích khai thác “tính vấn đề” của đời sống.

Trong những năm đầu, Nguyễn Khải cho ra đời một “chùm liên hoàn” ba tác phẩm cùng khai thác đề tài cuộc sống và con người ở miền Nam sau giải phóng: Cách mạng (1978), Khoảnh khắc đang sống (1982), Gặp gỡ cuối năm (1982). Chủ đề chính của cả ba tác phẩm là sự lựa chọn. Vở kịch Cách mạng viết về những trí thức miền Nam đến với cuộc sống mới với những mặc cảm lẫn ảo tưởng về quá khứ. Tuy vậy, họ đã lựa chọn cho mình một chỗ đứng có trách nhiệm trong cuộc sống mới. Gặp gỡ cuối năm là tác phẩm thành công và gây được tiếng vang của Nguyễn Khải. Đây là cái mốc thể hiện sự thay đổi bút pháp của Nguyễn Khải. Đề tài mới. Cách viết mới. Thời gian của truyện được nhà văn dồn nén trong mấy tiếng đồng hồ - khoảnh khắc giao thừa khi năm cũ qua, năm mới đến. Không gian truyện thu hẹp trong phạm vi một cuộc gặp gỡ giữa vài ba người. Trong không thời gian nhỏ hẹp đó Nguyễn Khải đã thể hiện thành công một vấn đề của cuộc sống ngay sau ngày đất nước thống nhất: sự lựa chọn. Nhân vật trong tác phẩm là những trí thức miền Nam trong giai đoạn giao thời buộc phải lựa chọn một chỗ đứng giữa cái mới và trật tự cũ. Họ là những người cùng máu thịt, anh chị em trong một nhà, vừa là những người đối lập nhau trong việc lựa chọn một cách sống phù hợp. Nhân vật nổi bật nhất của tác phẩm, bà Hoàng, con người “định đứng hẳn lại, đứng nguyên một chỗ, đứng không xê dịch” nhưng cuối cùng đã quyết định hòa nhập với cuộc sống mới như một tất yếu. Qua tình huống lựa chọn, tác phẩm đã khẳng định sự thắng thế của lí tưởng mới.

Đề tài tôn giáo cũng là đề tài phổ biến và được thể hiện thành công trong tác phẩm Nguyễn Khải. Đây là đề tài chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Khải. Từ Xung đột (1959) ở giai đoạn trước, đến Cha và con và... (1979) và Thời gian của người (1985), Điều tra về một cái chết (1985) ở giai đoạn sau, Nguyễn Khải đã đề cập được nhiều vấn đề bức xúc trong mối quan hệ giữa đạo và đời. Đáng chú ý là Nguyễn Khải không viết về tôn giáo chỉ để nói chuyện đạo, hay để thể hiện niềm tin và tín ngưỡng với một tôn giáo duy nhất. Viết về tôn giáo, dù là bất kì tôn giáo nào, Nguyễn Khải cũng hướng đến đối thoại để nhấn mạnh mối quan hệ giữa đạo và đời, đến nguy cơ tôn giáo bị quyền lực chi phối. Với tác giả, tôn giáo là sự lựa chọn đức tin của mỗi người. Và bằng cách đặt ra các vấn đề về tôn giáo, tác giả đã lưu ý đến những lựa chọn thiện lương và tốt đẹp, gắn với những lựa chọn đức tin. Trong Thời gian của người, Nguyễn Khải đã để cho nhân vật Quân nói về tôn giáo: “Theo tôi, các tôn giáo phải tự giải phóng ra khỏi cái ám ảnh về quyền lực thì mới tồn tại được, kể cả quyền lực về tinh thần. Phải là lĩnh vực bình đẳng nhất, tự do nhất, dân chủ nhất, người ta chỉ đến với tôn giáo bằng tình yêu, bằng trái tim, bằng những suy ngẫm cao cả để cuộc sống bản thân trở nên siêu việt”. Trong thế giới của đức tin, Nguyễn Khải không chỉ xây dựng những nhân vật phản diện đội lốt thầy tu như cha Lân (Xung đột) mà còn dành lòng trân trọng, cảm phục cho những nhân vật đại diện Chúa như cha Thư (Cha và con và...), Vĩnh (Thời gian của người).

Văn học viết về tôn giáo và nhà văn mang cảm quan tôn giáo vốn không nhiều ở Việt Nam. Với bộ tiểu thuyết Cửa biển, Nguyên Hồng đã viết về Ki Tô giáo với cảm hứng lãng mạn chi phối cái nhìn về đức tin tôn giáo. Khác Nguyên Hồng, triết luận tôn giáo là nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Khải. Ở tác phẩm nào, nhà văn cũng ngẫm nghĩ và suy tư về tôn giáo. Nếu Xung đột thể hiện cái nhìn đối kháng nhị nguyên (linh mục - nhân dân, tôn giáo - xã hội chủ nghĩa, địch - ta) thì ở Cha và con và... đã là sự hòa hợp giữa đạo và đời. Nếu ở Xung đột, nhà văn viết về quyền lực tối thượng của tôn giáo, thông qua hình tượng cha Lân với tham vọng từ tòa giảng nhà thờ tiến công, thu phục thiên hạ; thì ở Cha và con và..., Nguyễn Khải đã nhìn thấy tôn giáo “sẽ thuộc phạm trù của văn hóa chứ không còn thuộc phạm trù quyền lực như hiện tại”. Càng về sau, những triết luận, suy niệm về tôn giáo trong văn chương của Nguyễn Khải ngày càng sâu sắc: “Tôn giáo phải tự giải phóng ra khỏi cái ám ảnh về quyền lực thì mới tồn tại được, kể cả quyền lực về tinh thần” (Thời gian của người). Thông qua đề tài tôn giáo và “tính vấn đề” ở đề tài này, có thể nhìn thấy những thay đổi rõ rệt trong tư duy tiểu thuyết của nhà văn. Lúc này bên cạnh tính triết luận là tính đối thoại, bên cạnh cái nhìn quyền uy của tác giả là cái nhìn đa diện từ nhiều vị trí, góc nhìn. Không tuyên bố về sự cần thiết phải đổi mới triệt để một nền văn học sau chiến tranh, sau 1986, như Nguyễn Minh Châu; song, những tác phẩm của Nguyễn Khải giai đoạn từ 1978 trở đi (theo cái mốc tự tác giả phân chia các giai đoạn trong sự nghiệp sáng tác của mình), dù chỉ nhìn từ đề tài tôn giáo cũng đã cho thấy ý thức đổi mới của nhà văn trên nhiều phương diện.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, Nguyễn Khải là cây bút có “hứng thú nghiên cứu thực tại”. Sau 1975, tác phẩm của Nguyễn Khải chính là những triết luận về cuộc sống hiện tại, những triết lí về thời thế. Những vấn đề Nguyễn Khải quan tâm là khoảng cách giữa hai thế hệ (Thời gian của người (1985), Vòng sóng đến vô cùng (1987)...), sự đổi thay của cuộc sống sau chiến tranh đã làm đảo lộn mọi số phận, đưa đến vận may cho người này và vận rủi cho người khác (Anh hùng bĩ vận, Một cõi nhân gian bé tí, Cái thời lãng mạn...). Ở nhiều tác phẩm Nguyễn Khải thường để cho nhân vật của mình phát biểu quan niệm của nhà văn. “Chuyện của hôm nay dẫu buồn đến đâu, dẫu bực đến đâu vẫn cứ vui, vì nó là máu thịt của hôm nay, của giờ này, nó tươi rói, nó đỏ hồng”. Quan tâm đến “chuyện”, đến bất cứ cái gì, điều gì đang diễn ra, đang là tiêu điểm của đời sống, phải chăng chính là nguyên nhân khiến “tính vấn đề” luôn được nhà văn ưu tiên trong các tác phẩm của mình?

Nguyễn Khải là nhà văn khơi nguồn cho dòng văn học thế sự - chính luận. Chọn hướng sáng tác với các tác phẩm giàu tính vấn đề như thế, văn chương Nguyễn Khải  không phải không có lúc nặng về biện luận, lí giải, triết lý khô khan. Nhà văn Ngô Thảo từng có một ý kiến khá thú vị rằng cứ từ nhan đề mà suy thì khó có thể biết được tác giả thuộc ngành khoa học nào, khi nhắc đến các nhan đề tác phẩm của Nguyễn Khải (chẳng hạn như Xây dựng, Người con gái quang vinh, Một chặng đường, Xung đột, Mùa lạc, Ra đảo, Chiến sĩ, Chủ tịch huyện, Cách mạng…). Thế mà, tác phẩm của Nguyễn Khải vẫn hấp dẫn và nhà văn vẫn tạo được một giọng văn riêng. Tác phẩm của Nguyễn Khải thường được xây dựng từ những mẩu đối thoại sinh động của các nhân vật sắc sảo, thích đối thoại. Cái tài của Nguyễn Khải là xây dựng ngôn ngữ cá thể hóa, biến đổi, linh hoạt. Trong Gặp gỡ cuối năm, nhân vật được xây dựng chủ yếu qua ngôn ngữ đối thoại. Nhân vật của Nguyễn Khải, những Hoàng, Đại, Quân, Hảo, Quý, Bình đều nói năng thẳng thắn, đốp chát nảy lửa.

“Chị Hoàng bưng lấy mặt, rên rỉ:

- Thôi, không nói nữa nhé, ghê quá, câu chuyện của anh ghê quá!

Anh Chương cười nhạt:

- Cái bà này miệng hùm gan sứa thật. Muốn làm loạn mà sợ máu người à?

Chị Hoàng nửa nhăn mặt nửa cười:

- Mình chỉ thích có người khác làm thôi, còn mình thì sợ lắm.

Anh Quý:

- Tiếc rằng bà đã già quá và cũng xấu quá, nên khó có chàng hiệp sĩ nào muốn xả thân vì bà!

Chị Hoàng cầm một chiếc đũa lao về phía ông bạn cố tri:

- Thối! Làm nghề ngoại giao mà ăn nói đến thô tục”.

Trong Một thời gió bụi, chỉ bằng mấy lời đối thoại, Nguyễn Khải khái quát được tính cách của những thành viên trong gia đình Tú khi anh tính trở về quê hương sau khi nghỉ hưu:

“Con gái anh cười to:

- Thời buổi này mà dám chê tiền kể cũng lạ nhỉ?

Thằng con cũng cười:

- Thảo nào từ ngày hết chiến tranh bố không viết được bài báo nào hay.

Bà mẹ vênh mặt lên khinh khỉnh:

- Bố chúng mày cứ như người trên trời rơi xuống ấy”.

Một thành công khác ở Nguyễn Khải là nghệ thuật sử dụng độc thoại nội tâm. Nhân vật của Nguyễn Khải thích tranh luận, triết lí nhưng ẩn sau cái giọng triết lí ấy là một con người trầm tư chiêm nghiệm. Thật ra, độc thoại nội tâm cũng là một hình thức đối thoại ngầm. Ở tác phẩm của Nguyễn Khải, thật khó rạch ròi việc đối thoại và độc thoại nội tâm là sự lựa chọn của Nguyễn Khải để tạo tính vấn đề cho tác phẩm, hay chính tính vấn đề đã nhờ đối thoại và độc thoại của nhân vật mà hiển lộ ra. Có lẽ, đây chính là hai mặt của một tờ giấy trong văn chương Nguyễn Khải.

Tác phẩm Nguyễn Khải đa giọng điệu. Lúc hóm hỉnh hài hước, khi triết lí, lúc đùa cợt tự trào. Nhưng chủ âm trong tác phẩm Nguyễn Khải trước cũng như sau 1975 là giọng triết lí tranh biện. Đó là sự nhất quán trong phong cách văn xuôi Nguyễn Khải. Cũng nhất quán như Nguyễn Khải trước sau luôn là một cây bút nổi bật ở “tính vấn đề”. Nhìn chung, văn chương Nguyễn Khải thiên về cảm hứng phê phán. Nhà văn không ca ngợi một chiều mà tỉnh táo, lạnh lùng phơi bày hết mặt trái của các hiện tượng trong những năm tháng bước đầu dựng xây chủ nghĩa xã hội và những năm tháng thống nhất, đổi mới đất nước. Phong cách hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải vẫn gắn kết với chất lí tưởng, chất lãng mạn cách mạng khi vừa phơi trần cái xấu của nhân vật phản diện lại vừa đằm thắm tin yêu khi viết về những nhân vật tốt đẹp. Có thể nói, về cơ bản Nguyễn Khải vẫn là nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa, dù ông đã để lại “dấu vân tay” ở văn học giai đoạn sau đổi mới.

Năm 1995, khi Nhìn lại những trang viết của mình Nguyễn Khải vẫn mong muốn viết khác trước, bởi ông cho rằng: “Nghệ thuật đích thực phải là nhu cầu cấp thiết từ bên trong, từ ngọn lửa bùng cháy từ bên trong. Và khi nó đã phá ra được một cửa để câu chữ, hình ảnh, cách bố cục tràn ngập trên trang giấy thì chính người sinh thành ra nó cũng không biết là mới, là lạ, là đẹp, chỉ thấy phải như thế, bắt buộc là như thế”. Sau lần “nhìn lại” này, Nguyễn Khải vẫn tiếp tục có những tác phẩm mới như Sống ở đời (tập truyện, 2003), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2003), Tìm lại cái tôi đã mất (tùy bút, 2006); thể hiện quan niệm về một hình thức nghệ thuật mới: “Nó là sự từng trải già ẩn trong cái vỏ bọc trẻ. Là sự tích lũy dài ngày, một đời chạm được vệt sáng vĩnh cửu chói lòa trong giây phút”. Quả là đến những ngày tháng cuối đời, ngọn lửa bên trong của Nguyễn Khải vẫn luôn bùng cháy. Văn chương Nguyễn Khải vẫn luôn mang tính vấn đề, từ đề tài, cốt truyện đến nhân vật và lấp lánh chất trí tuệ của một nhà văn luôn ý thức sâu sắc rằng: “Nếu một truyện ngắn hoặc một cuốn tiểu thuyết chỉ có chuyện của người không có chuyện của mình thì mạng sống của nó không thể dài hơn một bài báo”3. Tính vấn đề và những đối thoại, triết luận về vấn đề trong văn chương Nguyễn Khải chính là cái phần “của mình” đã được nhà văn đưa vào tác phẩm. Cái phần “của mình”, riêng biệt ấy đã khiến những trang văn có phần khô khan, chính luận với những chi tiết, sự kiện được chép và kể lại bằng văn phong báo chí…, vẫn là những sáng tạo nghệ thuật mang đậm tư duy tiểu thuyết, góp phần khẳng định vị trí của Nguyễn Khải trong nền văn học Việt Nam hiện đại.

T.P.V.A

 

 

_______________

1 Nhà văn Nguyễn Khải (1930 - 2008), tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải. Trước năm 1988, Nguyễn Khải làm việc trong quân đội. Năm 1988, ông rời quân đội với quân hàm Đại tá và làm việc cho Hội Nhà văn Việt Nam trong nhiều khóa liền (các khóa 2, 3 và 4 ). Ông từng là  Phó Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 3), là Đại biểu Quốc hội khóa VII.

2 Trả lời phỏng vấn trên Văn nghệ, ngày 16-2-1999 (dẫn theo Nguyễn Khải - Đời người đời văn của Nguyễn Đăng Mạnh).

3 Dẫn theo Nguyễn Đăng Mạnh (2020), Nguyễn Khải - Đời người đời văn, tạp chí Nhà văn, số 9.