☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Zalo

Người Pa Kô

HOÀNG ĐÌNH BƯỜNG    04/05/2026    156
“Người con gái Pa Kô con cháu Bác Hồ/ Dù gian khổ, vượt núi, băng rừng/ Dù mưa bom em vẫn không ngại chi/ Đi đánh Mỹ giữ lấy núi rừng…”. Lời bài hát ấy đã ghi danh dân tộc Pa Kô vào bản hùng ca của đất nước từ thời kháng chiến chống Mỹ, vang vọng mãi đến tận bây giờ. Người Pa Kô nổi tiếng với niềm tin sắt son vào Đảng và Bác Hồ, coi đó là lẽ sống cao đẹp. Một dân tộc thiểu số với khoảng 40.000 người, sinh sống giữa đại ngàn Trường Sơn từ Hướng Hóa (Quảng Trị) đến A Lưới (phía tây thành phố Huế), nhưng đã chiến đấu dũng cảm trong kháng chiến chống Mỹ, đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng quê hương.


Dân tộc này có nhiều tên gọi như Pa Kô, Pa Hi, Tà Ôi, Tà Uốt, Kan Tua… Nhưng cái tên Pa Kô vẫn được nhắc đến nhiều nhất, có lẽ bởi sự gắn kết thiêng liêng với hình ảnh “con cháu Bác Hồ”. Đơn vị tôi - Trung đoàn 6 Phú Xuân - đã gắn bó với người Pa Kô suốt 10 năm ròng rã (1965 - 1975). Đó là những năm tháng chung chia gian khổ, nhường cơm sẻ áo, chia lửa, chia máu trên chiến trường Trị - Thiên khốc liệt. Là một người chiến sĩ trực tiếp lăn lộn trên chiến trường ấy, những kỷ niệm về người Pa Kô trong tôi luôn sống động như những thước phim tư liệu.

Dọc đường chiến trận thuở ấy, đâu đâu cũng thấy bóng dáng người Pa Kô. Họ là chiến sĩ quân giải phóng, dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công vận tải… không quản ngại khó khăn nguy hiểm, đạn bom ác liệt để tham gia kháng chiến. Có những thiếu niên mới 14, 15 tuổi đã có mấy năm băng rừng cùng bộ đội tải thương, vận chuyển vũ khí.

Có người nói, cả dân tộc Pa Kô đã biên chế chính thức trong đội ngũ cách mạng điệp trùng. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Vai và Hồ Kan Lịch là minh chứng sống động nhất cho thành tích chiến đấu dũng cảm của người Pa Kô. Tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, Bác Hồ và cách mạng gần như là một thuộc tính bẩm sinh của người Pa Kô. Phẩm chất ấy ánh ngời như ngọc, quý hơn vàng, lan tỏa giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.

Thời ấy, cái đói nghèo cơ cực đeo bám đồng bào quanh năm. Bữa ăn hằng ngày chỉ là nồi cháo hổ lốn “Tà lục tà lạo” với ngô, khoai, rau, sắn. Chiến tranh không dệt được vải, họ thường mặc quần áo bộ đội hoặc trang phục của các bộ tộc Lào bên biên giới. Chống chọi với muỗi rừng, vắt và cái rét đại ngàn chỉ có thuốc lá Tà Ôi, ớt chỉ thiên và bếp lửa. Máy bay OV10 luôn dòm ngó sẵn sàng gọi máy bay cường kích dội bom, pháo. Vì thế, già trẻ gái trai sống chui rúc trong những lều lán dựng dưới tán rừng thâm u. Gầy guộc, đen đúa, khô quắt vì gian khổ nhưng ánh mắt người Pa Kô bao giờ cũng rực sáng, nụ cười bao giờ cũng hồn hậu, hiền lành dễ mến.

Niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào Bác Hồ và cách mạng của người Pa Kô đôi khi chân chất đến quyết liệt. Tôi nhớ đầu tháng 9 năm 1972, đoàn vận tải từ mặt trận đến dốc Ông Già xuống Khe Rùa nghỉ chân, chuẩn bị vượt dốc Thanh Niên lên viện 94 thì gặp sự cố. Nhóm vận tải người Pa Kô khi phát hiện mình đang khiêng cáng cho thương binh phía bên kia chiến tuyến đã thẳng thừng từ chối: “Hắn là giặc, để cho hắn chết. Mình không cáng hắn lên viện mô…”. Trước phản ứng ấy, đoàn phải mất nhiều thời gian giải thích, thuyết phục và bố trí đổi người khiêng, họ mới đồng ý để đoàn tiếp tục lên đường.

Một lần khác có anh cán bộ vào bản tuyên truyền: “Cách mạng đang bước vào giai đoạn mới, sắp chiến thắng. Thế ta là thế đi lên…”. Nghe vậy, một cụ già phản ứng ngay: “Không được. Mình không đồng ý. Thế cách mạng phải đi xuống mới mau thắng lợi. Đi lên mệt hung, lâu lắm! Không ưng cái bụng mô”. Cái lý lẽ tưởng chừng ngây ngô ấy lại cho thấy sự thật thà, hết lòng muốn thắng giặc thật nhanh để có hòa bình.

Kỷ niệm sâu đậm nhất là lần tôi cùng hai đồng đội hành quân gặp cơn mưa rừng đầu mùa xối xả. Khe suối ngập nước lên tới vài mét khiến các lối về mặt trận đều bị chặn. Gạo mang theo đã cạn, chỉ còn ít muối, con dao găm, bật lửa và chiếc ăng-gô. Chúng tôi quyết định ghé vào chòi Mụ Hường tá túc, ngớt mưa sẽ tiếp tục hành quân về đơn vị. Chòi Mụ Hường là một dãy lán liền kề nhau, ngăn cách bởi vách nứa và có bếp riêng. Lán chúng tôi nghỉ chỉ có hai ông bà già, con cháu đều đi làm cách mạng. Sau khi chúng tôi trình bày lý do xin vào lán tá túc, Aam (bố) và Ay (mẹ) vui vẻ nhận lời. Mươi phút sau, một nồi cháo “Tà lục tà lạo” với măng rừng, sắn, ngô và ớt chỉ thiên được bắc lên bếp. Nồi cháo chín, cả nhà cùng ngồi ăn vô cùng đầm ấm, vui vẻ. Những đêm ở lại chòi, chúng tôi đã được sưởi ấm giữa mùa mưa đói rét. Những đêm ấy, tiếng đàn Ta Lư và nhịp nhảy múa của đám trẻ đi làm cách mạng về vang vọng ở khu vực chòi, vui đáo để. Bài thơ “Nhật kí số 20” in trong tập “Điểm danh” là nỗi niềm tâm trạng của tôi gắn với kỷ niệm này:

…Nhớ cảnh nhớ người nơi làng bản

Aam lên núi bẻ măng ngàn

Ay bì bõm bên suối vắng

Củ sắn, rau rừng… Tấm lòng son

Miền Tây, miền Tây! Tình sâu nặng

Kỉ niệm giăng vương những lối mòn…

(Nam Đông - Khe Tre, 1972)

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những người cùng thời chúng tôi phần lớn đã thành “người thiên cổ”. Trở lại các làng bản Pa Kô ngày nay tại Lao Bảo, La Lay, tôi ngỡ ngàng trước sự thay đổi. Dân trí cao hơn, cuộc sống sung túc, no đủ hơn. Người Pa Kô nay đã làm chủ mảnh đất của mình bằng cách vươn lên phát triển kinh tế, tự tin hướng tới tương lai.

Nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Trung đoàn 6 - Phú Xuân (10/10/1965 - 10/10/2025), tôi cùng đồng đội đã đến viếng ngôi đền thờ hơn 13.000 liệt sĩ của đơn vị tại xã Ba Lòng, tỉnh Quảng Trị. Trong số cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 6 hy sinh có nhiều người Pa Kô là đồng đội tôi. Giữa làn khói hương nghi ngút, tôi lặng người nhìn những bạn trẻ Pa Kô trong sắc áo xanh tình nguyện đang thành kính thắp nhang. Người Pa Kô xưa nay vẫn thế, vẫn trọn vẹn nghĩa tình với Đảng, với Bác Hồ. Đúng như lời ca năm nào người Pa Kô “con cháu Bác Hồ”.

H.Đ.B